TỪ VAI TRÒ CỦA ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT NHÌN LẠI ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐẦU KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP

altSau mười thế kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, đến năm 938, Ngô Quyền xưng vương (939), thực sự đã khôi phục nền độc

 

 

 

lập và chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, sau khi Ngô Quyền mất (944), Đại sư Khuông Việt (930-1011) tên thật là Ngô Chân Lưu, là người Cát Lợi, Thường Lạc, thuộc địa phận của hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn, thuộc ngoại thành thủ đô Hà Nội hiện nay. Ông là hậu duệ của Ngô Thuận Đế, tướng mạo khôi ngô, chí chuộng phóng khoáng, nhỏ theo nghiệp nho, lớn lên về Phật, cùng bạn học Trụ Trì đến Văn Phong chùa Khai Quốc thọ giới cụ túc. Từ đó đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của thiền. Năm 40 tuổi tiếng vang tới triều. Vua Đinh Tiên Hoàng mời đến sư đối đáp hợp ý, bèn phong làm Tăng thống. Năm Thái Bình thứ hai (971), vua ban hiệu Khuông Việt Đại sư. Thời Tiền Lê, Hoàng đế Lê Đại Hành càng thêm kính trọng. Phàm việc quân việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào

Theo Lê Mạnh Thát, Đại sư Khuông Việt có mối quan hệ máu mủ với người đã lập ra nhà Ngô, nên khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng đã cho mời Đại sư về triều và phong làm Khuông Việt Đại sư. Với một tước phong như thế, rõ ràng Đại sư phải có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp đế vương của Đinh Tiên Hoàng. Không những vậy, Khuông Việt có nghĩa là “giúp đỡ nước Việt”. Chỉ với ý nghĩa đó thôi, tước phong này đã mang màu sắc chính trị, vượt ra ngoài chức năng của một vị thiền sư, đặc biệt khi được phong một lần với những người có công lớn đã cùng Đinh Tiên Hoàng thống nhất tổ quốc như Định quốc công Nguyễn Bặc và Thập đạo tướng quân Lê Hoàn [2].

* Về vai trò của Đại sư Khuông Việt

- Đối với Phật giáo

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Tân Mùi, [Thái Bình] năm thứ 2 [971] (Tống Khai Bảo năm thứ 4). Bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo, cho Nguyễn Bặc làm Định Quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ cư, Lê Hoàn làm thập đạo tướng quân, tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư [3].

Khuông Việt được phong là Tăng thống vào năm 969. Tăng thống là chức quan phong cho vị sư được triều đình coi là người đứng đầu Phật giáo. Ở Trung Quốc cho đến thời Khuông Việt, chỉ có Tăng lục mà không có Tăng thống. Thế nhưng, năm 971, với sự kiện Đinh Tiên Hoàng phong Tăng thống Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục thì lần đầu tiên Phật giáo được tổ chức thành một hệ thống cho cả nước mà đứng đầu là Đại sư Khuông Việt. Một giáo hội Phật giáo Việt Nam bắt đầu từ đây chứ không phải đợi đến khi thiền phái Trúc Lâm ra đời mới có giáo hội thống nhất như có người đã đề xuất [4].

Với chức vụ đứng đầu Phật giáo này thì mặc dù có rất ít tài liệu ghi lại những việc làm của Đại sư Khuông Việt trong thời gian làm Tăng thống, nhưng chúng ta cũng có thể khẳng định vai trò của ông đối với Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn ông đương chức. Đặc biệt lúc này triều đình Đinh, Tiền Lê đã suy tôn Phật giáo làm quốc giáo.

Theo tài liệu khảo cổ học, trong thập niên 70, Đinh Liễn đã liên tục cho dựng đến 200 tràng kinh. Trong thời điểm này, Khuông Việt đang giữ chức Tăng thống, do vậy việc tư vấn cho Đinh Liễn trong việc dựng các tràng kinh phải nhắc đến vai trò của Khuông Việt Đại sư. Có thể nói, những tràng kinh do Đinh Liễn cho khắc được tìm thấy tại Hoa Lư là những di vật của lịch sử Phật giáo nói riêng và của lịch sử dân tộc nói chung. Chúng không những cho thấy đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người Việt cách đây trên một thiên niên kỷ, mà còn chỉ ra nghệ thuật viết chữ, nghệ thuật là đá của ông cha ta trước đây như thế nào. Không những thế, đối với văn hoá Phật giáo thế giới, bài chú khắc trên những tràng kinh ấy có thể tham gia giúp hiệu đính lại những văn bản của bài chú hiện đang lưu hành trên thế giới. Đây là một đóng góp khác, tuy gián tiếp, nhưng rất có ý nghĩa của Khuông Việt đối với lịch sử và văn hoá dân tộc cũng như Phật giáo [5]. Qua đó, chúng ta thấy uy tín và ảnh hưởng của Khuông Việt đối với triều đình nhà Đinh là rất to lớn.

Đại sư Khuông Việt là người kế thừa thuộc thế hệ thứ 4 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Trong cuộc dời tu tập của mình, Thiền sư Khuông Việt đã thống nhất và phát triển các hệ phái Phật giáo, đồng thời định hướng tư tưởng tốt đời đẹp đạo. Nhờ vậy, Phật thời Đinh – Tiền Lê đã trở thành một công cụ tinh thần để quản lý và xây dựng đất nước. Hơn thế nữa, các bài thơ, kệ của Ngài vẫn là bài học Pháp môn căn bản cho Tăng ni, Phật tử, là bài học về quá trình tu dưỡng học tập Phật pháp, phấn đấu vì lợi ích quốc gia cho các thế hệ mai sau [6].

- Đối với nền độc lập dân tộc

Đại sư Khuông Việt không chỉ là một nhà tu hành mà còn là một nhà chính trị, nhà ngoại giao tài ba của nước Việt. Công lao của ông gắn với 2 triều Đinh và Tiền Lê. Sự kiện năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức Đại sư Khuông Việt, Tăng thống của Thiền phái Vô Ngôn Thông cũng đánh dấu triều Đinh chính thức nhận thức Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Danh hiệu Khuông Việt Đại sư mà vua Đinh Tiên Hoàng ban cho ông cũng đã nói lên tầm quan trọng và công lao của ông trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao đối với nền độc lập của đất nước.

Đến thời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành càng tôn kính sư hơn. Vua Lê Đại Hành rất kính trọng, phàm những việc quân quốc trong triều đình đều đưa cho ngài cả [7].

Bản thân Khuông Việt cũng coi Đời hơn Đạo. Ông tham gia triều chính, góp phần củng cố nhà nước Đại Việt còn non trẻ [8]. Ông cho rằng, chính trong cuộc đời, chúng ta mới tìm thấy giác ngộ, tìm thấy sự sống của đạo lý mình. Mọi người đều có thể biến cuộc đời thành một thế giới của giác ngộ, của chân lý, của tình thương, làm cho nó bật ra những tiếng nói sự thật có lợi ích cho tất cả. Đây chính là triết lý hành động mà Khuông Việt đã học được từ thầy mình và sau này đã ứng dụng một cách nhuần nhuyễn vào sự nghiệp cứu dân, giúp nước trong thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt mới ra đời [9].

Tháng 3 năm Tân Tỵ (981), khi quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy kéo sang xâm lược nước ta thì vua Lê Đại Hành đã nhờ sư đến Tì Sa Môn Thiên Vương ở núi Vệ Linh để cầu nguyện (Trước đó, Đại sư có khắc tượng Tì Sa Môn Thiên Vương để thờ tại núi Vệ Linh). Nhờ vậy, quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh, lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ.

Sau khi tham gia vào chiến thắng năm 981, tiêu diệt toàn bộ đội quân xâm lược Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy, Khuông Việt lại tham gia vào mặt trận đấu tranh ngoại giao ngày càng trở nên xung yếu cho sự bảo vệ đất nước. Nổi bật nhất là sự kiện Khuông Việt tiếp đón phái bộ ngoại giao của Lý Giác đến nước ta vào năm Thiên Phúc thứ 8 (987). Trước khi Lý Giác ra về, vua Lê Đại Hành đã sai Khuông Việt viết một khúc nhạc để tiễn đưa phái bộ. Và bài Vương Lang quy - một từ khúc ngoại giao nổi tiếng với lời lẽ hết sức mềm mỏng, khéo léo nhưng lại hết sức cương nghị, đã được Đại sư ứng tác trong dịp này để đưa tiễn Lý Giác trở về. Nội dung bài từ như sau:

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,

Dao vọng thần tiên phục đế hương

Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lương

Cửu thiên qui lộ trường.

Tình thảm thiết.

Đối ly trường,

Phan luyến sứ tình lang.

Nguyên trượng thâm ý vị biên cương.

Phân minh tấu ngã hoàng.

Tác phẩm Vương lang quy này là tác phẩm văn học đầu tiên hiện còn của lịch sử ngoại giao Việt Nam, đồng thời, nó cũng là bài từ xưa nhất không những của văn học Việt Nam mà còn là của văn học thế giới. Vị thế của bài từ trên có thể nói là có một không hai trong lịch sử ngoại giao Việt Nam và văn học dân tộc.

Từ khúc Vương lang quy được đại sư Khuông Việt sang tác ra vào năm 968 có chức năng hát lên trong bữa tiệc ngoại giao tại cung đình nhà nước Đại Cồ Việt, nhằm tiễn đưa phái bộ ngoại giao của Lý Giác. Mặc dù ngày nay không lưu lại nhạc bản nhưng dẫu vậy, lịch sử âm nhạc Việt Nam cũng ghi nhận một tác phẩm và một tác giả mới đó là Đại sư Khuông Việt. Lịch sử âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn này cũng không đến nỗi “tối tăm” như có người đã lầm tưởng.

Vào những năm cuối đời, khi đã rời nhiệm vụ Tăng thống và những công việc triều chính khác, Khuông Việt Đại sư đã trở về mở trường dạy học trò tại chùa Thanh Tước núi Du Hý của quận Thường Lạc. Tại đây, đã thu hút một lượng đông đảo học trò theo học. Tuy vậy, Khuông Việt cũng thường xuyên lui tới giảng dạy tại trường giảng của chùa Khai Quốc – ngôi chùa của thiền sư Vân Phong, vị thầy mà đại sư Khuông Việt từng theo học. Việc giảng dạy này đã tạo nên những phật tử có trình độ, có hiểu biết và không ít người đã đi theo bước chân của các bậc tiền bối, đóng góp sức mình cho sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc.

* Nhìn lại ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân tộc đầu kỷ nguyên độc lập

Từ một nền Phật giáo quyền năng, do yêu cầu của lịch sử, vào đầu kỷ nguyên độc lập, Phật giáo Việt Nam đã biến thành một nền phật giáo chống ngoại xâm. Đây có thể nói là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong giai đoạn phát triển này của Phật giáo. Nó đã tích cực tham gia vào phong trào vận động độc lập với một lý luận vận động hết sức rõ nét. Những người Phật giáo không phân biệt thành phần tại gia hay xuất gia đã cùng nhau đoàn kết, qua nhiều lần diễn tập, cuối cùng thành công, giành lại được độc lập cho tổ quốc và thống nhất đất nước về một mối, đặt nền móng cho kỷ nguyên văn minh Đại Việt phát triển rực rỡ huy hoàng trong gần 1000 năm .

Nét đặc trưng của Phật giáo thời kỳ này là việc gắn bó giữa Phật giáo với chính quyền dân tộc độc lập. Các phần tử Phật giáo luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề trọng đại của đất nước, đặc biệt là vấn đề đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Điều này có thể thấy rõ qua cuộc đời của các vị thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh… Họ đã đóng góp nhiều công sức trong việc giành lại nền độc lập của dân tộc. Khi nói về mối liên quan giữa đạo Phật và chính trị, lý do khiến các nhà sư thường tham dự chính sự đó là: Trước hết, họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của dân đang bị đô hộ, bóc lột; Họ không có ý muốn có ý muốn tranh ngôi vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời nên được vua tin tưởng; Họ cũng không cố chấp vào thuyết trung quân nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân; Một lý do nữa là các vua cần sức học của họ, nhất là các đời Đinh, Lê, các vua đều không phải thuộc giới trí thức, nho sĩ cũng không có mấy người, lại chỉ trung thành được với một triều đại.

Với những lý do đó, Phật giáo đã tham gia tích cực vào các vấn đề dân tộc nhất là độc lập dân tộc. Hệ tư tưởng Phật giáo đã đáp ứng nhu cầu lịch sử và thể hiện được mong ước thái bình ngàn đời của dân tộc ta.

Từ thời Tiền Lê, lần đầu tiên Phật giáo có một tổ chức thống nhất đứng đầu là Tăng thống. Khi có một tổ chức thống nhất, Phật giáo bắt đầu có những đóng góp tích cực và có hiệu quả hơn vào lịch sử dân tộc.

Nền Phật giáo được phổ biến rộng rãi. Các thiền trường cũng chính là các trường học bán chính quy dạy đủ tất cả các môn học, không chỉ giới hạn trong kinh điển Phật giáo. Do vậy, các nhà sư thường là những người hiểu biết rộng, có thể đảm đương và hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà lịch sử đã giao phó, trong đó, nổi bật nhất là nhiệm vụ bảo vệ độc lập của tổ quốc và phát triển đất nước. Có thể nói, các thiền trường và các ngôi chùa cũng chính là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước.

Nền giáo dục nhà chùa nhà trường này sau hơn 1000 năm tồn tại đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nó và rồi sẽ chuyển giao lại cho một nước Đại Việt độc lập đảm trách. Như thế, nền giáo dục do nhà chùa nhà trường thực hiện trong hơn một thiên niên kỷ ấy thực tế là một nền giáo dục của dân tộc đối kháng lại với nền giáo dục nô dịch do các chính quyền phương Bắc tìm mọi cách áp đặt với mục đích đồng hoá và cuối cùng thủ tiêu mọi ý chí đấu tranh cho độc lập. Nền giáo dục này đã thực hiện thành công thiên chức của mình.

Trong buổi đầu độc lập, nhiều ngôi chùa nổi tiếng đã được xây dựng như chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc), chùa Kiến Sơ, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột)… Những ngôi chùa đó không chỉ là trung tâm sinh hoạt của Phật giáo mà cũng là trung tâm giáo dục, văn hoá lớn của đất nước.

Bên cạnh chùa chiền, Phật giáo giai đoạn này còn cho đúc tượng, vẽ tranh, tổ chức lễ hội và nghi thức tụng niệm mà ngày nay đã trở thành những di sản vật chất và tinh thần vô giá.

Phật giáo giai đoạn này cũng để lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm mang giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Bắt đầu từ bài thơ đầu tiên Đất trình pháp khí của Định Không cho đến chùm thơ Phù Đổng Thiên Vương tại chùa Kiến Sơ với ít nhất gần 20 bài thơ thuộc dạng này. Đó là ba bài thơ của Định Không (730-808), một bài của La Quý, mười bài của Vạn Hạnh. Và đó là chưa kể những bài thơ Sông núi nước Nam và Vận nước của Pháp Thuận cũng như bài từ tiễn sứ của Khuông Việt [10].

Có thể nói, vào đầu kỷ nguyên độc lập, Phật giáo Việt Nam đã thực sự hoà mình vào dân tộc, vào nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước. Với ý nghĩa đó, Phật giáo gắn bó với lịch sử dân tộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách trị nước của các vị vua. Trong suốt một thời gian dài, Phật giáo được xem là quốc giáo. Do vậy, vai trò và ảnh hưởng của các nhà sư, đặc biệt là các vị quốc sư đối với việc nước ngày càng trở nên quan trọng. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại sư Khuông Việt - vị Tăng thống đầu tiên của lịch sử Phật giáo Việt Nam chính là một minh chứng rõ nét.

 Nguyễn Thị Thuỳ Nhung

 Trường Đại học Khoa học Huế

 

 

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1462977
    Đang online :30
    Bảng quảng cáo