Diễn văn khai mạc Hội thảo Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại

         Kính bạch chư Tôn Giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức ...

         Kính thưa chư vị khách quý đại diện chính quyền các tổ chức, đoàn thể, ban ngành.

         Kính thưa quý vị giáo sư, học giả, các nhà chuyên môn

         Kính thưa chư liệt vị,

Thay măt Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và niềm hân hoan sâu đậm, chào mừng Quý vị đến tham dự cuộc hội thảo “Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại” do Viện chúng tôi tổ chức.

Mục đích của cuộc Hội thảo này là nhằm đóng góp một số ý kiến để phát triển giáo dục Phật giáo, cũng như đóng góp xây dựng một nền giáo dục mới, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước, của thời đại; từ đó tìm một phương hướng giải quyết những thiếu sót trong giáo dục trước những yêu cầu bức bách của cuộc sống hôm nay. Hiển nhiên, là một tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện chúng tôi muốn dựa vào giáo lý của đức Thích ca để xây dựng một nền giáo dục Phật giáo mà chúng tôi tin chắc rằng có thể giảm thiểu tối đa những đau khổ, từ đó được thuận lợi trong việc tiến đến giải thoát tối hậu. Trong khi đó, chúng tôi cũng hết sức trân trọng các truyền thống giáo dục, những thành quả tốt đẹp đưa con người đến tiến bộ của nền giáo dục vốn có từ xa xưa và được kế tục cho đến ngày nay.

Trước hết, chúng tôi xin được nêu một số nhận định về giáo dục qua một số ý nghĩa và đăc trưng chủ yếu của nó. Kế đó, chúng tôi sẽ nêu những bất ổn hiện nay của cuộc sống để mong tìm nguyên nhân cơ bản của chúng và để nhận định giáo dục phải chịu trách nhiệm về những bất ổn này một khi tự nhận chức năng của mình là tạo hạnh phúc cho con người. Từ đó, chúng tôi sẽ nêu lên những đóng góp của Phật giáo vào giáo dục và vào việc thực hiện giáo dục mà chúng tôi tin rằng có thể góp phần hoạch định một phương hướng cho giáo dục trong thời hiện đại. Trong khuôn khổ của bài nói chuyện này và trong khả năng chuyên môn còn hạn hẹp, chúng tôi chỉ xin nêu một số ý kiến cơ bản mà không bàn sâu vào chi tiết và nghĩ rằng sự đóng góp của toàn thể chúng ta, những thành viên của cuộc Hội thảo này, hẳn sẽ làm phong phú và sáng tỏ nhiều vấn đề giáo dục.

I/ MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO DỤC :

Trong ý nghĩa khái quát, giáo dục nghĩa là truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn, hướng dẫn tư tưởng, tình cảm, nếp sống để người được thọ nhận phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, thích nghi với xã hội, với thiên nhiên. Các nhà giáo dục thường bàn về sự đào tạo, sự chuyển hóa và bản tính con người, sự phát triển hài hòa của cá nhân và xã hội, về giá trị lao động, sáng tạo, về đạo đức và ý thức hệ...

Giáo dục phải mang tính chất sáng tạo và tiến bộ, nếu không con người cũng giống như các quần thể sinh vật khác, có huấn luyện con cái, nhưng mọi sinh hoạt chỉ phát xuất từ bản năng mà thôi. Ở con người còn có thêm mối liên hệ giữa cá nhân này và cá nhân khác, giữa cá nhân hay một nhóm cá nhân với xã hội. Con người là con người xã hội, sống trong môi trường thiên nhiên luôn luôn bị tác động do con người, cho nên giáo dục phải được đăt trong tổng thể xã hội và thiên nhiên, trong đó một yếu tố hết sức quan trọng phải đề cập đến là tâm lý của con người. Đây là một vấn đề gay go, phức tạp đăt ra cho giáo dục, vì cái tâm con người hướng dẫn mọi hành động. Tìm hiểu con người chính là tìm hiểu cái Tâm của con người vậy.

Giáo dục sẽ không có hiệu quả nếu như các nhà giáo dục không khẳng định được ý nghĩa của đối tượng giáo dục, mục tiêu, nội dung, phương pháp và biện pháp giáo dục.

Ý nghĩa nổi bật của giáo dục là sự truyền thọ, huấn luyện, đào tạo. Nhưng sẽ rất thiếu sót nếu chúng ta không nhấn mạnh đến sự kích thích làm phát triển khả năng tư duy, sự tinh tấn, tinh thần tự do, tính sáng tạo và thiện căn vốn có sẵn ở người được giáo dục. Đối tượng giáo dục là con người, nhưng cho đến nay, các nhà triết học, đạo học và giáo dục vẫn chưa có một định nghĩa thỏa đáng về con người. Bao lâu con người còn chưa được tìm hiểu một cách căn kẽ, rõ ràng thì mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục vẫn còn mang tính chất áp đăt, duy ý chí. Cũng như những loại hình sinh hoạt có ý thức khác, mục tiêu của giáo dục là nhằm tạo hạnh phúc cho con người, nhưng trước hết, giáo dục nhằm tránh bớt những khổ đau, trở ngại trong cuộc sống, đồng thời tạo một số hạnh phúc tương đối, sự an toàn tương đối về vật chất, tâm linh qua việc đào tạo những mẫu người có kiến thức, kỹ năng và đạo đức đủ để nâng cao dần cuộc sống của cá nhân và của cộng đồng xã hội. Một khi mục tiêu được xác lập, nội dung giáo dục theo đó được hình thành và triển khai. Đó là những kiến thức khoa học kỹ thuật, đạo đức, thẩm mỹ, những kỹ năng thực hành, óc suy luận, sáng tạo v.v... là những nội dung giáo dục vẫn thường được thực hiện ở các trường học. Phương pháp giáo dục cũng đa dạng để có thể áp dụng theo từng hoàn cảnh, từng căn tính của người được giáo dục.

Nhìn qua những thành quả của khoa học kỹ thuật cũng như của nhiều lãnh vực hoạt động khác, người ta dễ dàng thấy rằng giáo dục đã tạo được những bước tiến bộ đáng kể trong xã hội loài người. Ngược lại, những bất ổn, những trở ngại, khổ đau vẫn tồn tại và cứ tăng thêm thì hiển nhiên đó là những biểu hiện khiếm khuyết của giáo dục và giáo dục hay các nhà làm giáo dục phải chia sẻ trách nhiệm.

II/ GIÁO DỤC CHỊU PHẦN TRÁCH NHIỆM VỀ NHỮNG BẤT ỔN CỦA THẾ GIỚI :

Mục tiêu của giáo dục Phật giáo là Giải thoát, Niết-bàn, là Hạnh phúc tuyệt đối. Nhưng Phật giáo vẫn trân quý cái hạnh phúc tương đối với điều kiện là hạnh phúc này không gây ra khổ đau về sau. Quan niệm về hạnh phúc, về tiêu chuẩn của cái Thiện có thể gây tranh cãi, nhưng quan niệm về những khổ đau trước mắt và dai dẳng thì dễ dàng được mọi người đồng ý. Ai cũng thấy rõ hiện nay con người đang đối măt với những tai họa lớn, chiến tranh vẫn diễn ra ở nhiều nơi, sự tàn ác, bạo lực, sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, sự suy thoái đạo đức, nghèo đói, bệnh tật, sự gây ô nhiễm và làm cạn kiệt môi trường sống ngày càng tăng.

Có thể xem đây là những cơn bệnh trầm kha của loài người. Theo đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cuộc sống vật chất có vươn lên. Tiện nghi vật chất ngày càng nhiều, nhưng những đòi hỏi tiện nghi vật chất ngày càng mạnh và khoa học kỹ thuật ngày càng cao, chủ yếu là để đáp ứng các nhu cầu tiện nghi vật chất ấy. Nhưng măt khác, những khổ đau về vật chất và tinh thần cũng ngày càng gia tăng. Chiến tranh có quy mô rộng lớn hơn, mức độ khốc liệt hơn, có khả năng tiêu diệt cả hành tinh này. Môi trường sống gồm đất, nước, không khí đang bị ô nhiễm trầm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt để phần lớn phục vụ cho những tiện nghi xa xỉ của một số người giàu có. Hậu quả là những thiên tai, nghèo đói, bệnh tật gia tăng, hành hạ và giết hại vô số sinh linh. Tệ hại hơn, sự suy thoái đạo đức làm phát sinh bạo lực, cướp giật, lừa đảo, làm lũng đoạn gia đình, xã hội ... con người chống đối nhau do tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, do sân hận, si muội.

Khoa học kỹ thuật cứ mãi nhằm phục vụ cuộc sống vật chất, nếu giáo dục không coi nhẹ việc huấn luyện tâm linh thì tại sao lại có tình trạng thiếu cân đối trầm trọng giữa cuộc sống vật chất và cuộc sống tâm linh ? Giáo dục có mục đích tạo hạnh phúc, mà hạnh phúc là sự cảm thọ của tâm lý; tâm lý con người đang bị dằn văt, khổ đau thì phần trách nhiệm trước hết là của giáo dục.

Giáo dục hiện đại phải nhằm xây dựng một kế hoạch trước mắt và lâu dài để giải quyết những bất ổn hiện nay của thế giới vốn là những căn bệnh lâu đời và đang bước vào thời kỳ trầm trọng.

III. NHỮNG YÊU CẦU ĐĂT RA CHO GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI :

Giáo dục sớm nhận rõ những tai hại vừa nêu trên nên đã sớm đề cao đạo đức, sớm đưa vào chương trình giảng dạy những lý thuyết, những thực hành những giá trị đạo đức thực tiễn. Thế nhưng tình trạng bất ổn của xã hội loài người vẫn chưa được giảm thiểu, như vậy là do tổ chức, nhân sự, phương pháp và biện pháp giáo dục chưa tốt, hoăc do nhiều nguyên nhân khác, nhưng chủ yếu là do nội dung giáo dục chưa đúng đắn, chưa cân đối, chưa sát hợp với đối tượng và mục tiêu giáo dục.

Giáo dục đang đăt năng vào việc phát triển khoa học kỹ thuật trong khi khoa học kỹ thuật chưa có đường hướng và mục tiêu cụ thể. Cần phải có một triết học và đạo đức học cho khoa học kỹ thuật và giáo dục phải nhận vai trò hướng dẫn thực hiện triết học và đạo đức học ấy.

Lại nữa, bao lâu chúng ta chưa đưa giáo dục quay trở về với chính con người, giúp con người tự tìm hiểu mình và tìm hiểu những người chung quanh thì những hành động sai trái, gây nguy hại vẫn còn tiếp diễn. Nói thế có nghĩa là giáo dục phải mang tính chất nhân bản hơn để xứng đáng là giáo dục của con người, vì con người.

Chiến tranh, bạo động, bất công, lọc lừa, gian dối, sự ô nhiễm, cạn kiệt môi trường sống trong đó gồm môi trường tâm linh ... chủ yếu là do lòng tham lam, sự sân hận và si muội gây nên. Phật giáo gọi đấy là Tam độc : Tham, Sân, Si. Vô ngã, vị tha, vô chấp, tự tại, từ bi, trí tuệ phải là nền tảng của một nền giáo dục đích thực; nói khác đi, giáo dục trong thời đại ngày nay phải tìm cách nhổ dần Tham, Sân, Si, gốc rễ của mọi bất thiện trên đời.

Cách giải quyết thỏa đáng cho những yêu cầu trên, theo chúng tôi, có thể tìm thấy trong giáo lý của đức Phật.

IV. GIÁO LÝ PHẬT GIÁO CÓ THỂ ĐÓNG GÓP HỮU HIỆU CHO GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI :

Giáo lý của đức Phật gồm trọn trong Tam tạng kinh điển của Phật giáo. Trong suốt 45 năm hoằng hóa, đức Phật chỉ nhằm đưa con người thoát khỏi khổ đau, chấm dứt sinh tử luân hồi. Ngài là một nhà giáo dục vĩ đại và kinh điển của Ngài là một kho giáo tài lớn nhất thế giới. Tin tưởng giáo lý của đức Phật là “con đường độc nhất đưa đến sự chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu, não”, chúng tôi quan niệm rằng con đường này phải dung hợp mọi con đường đúng đắn, nghĩa là nó phù hợp với những ý kiến, tư duy đúng đắn của những nhà giáo dục trong mọi thời đại. Từ đó, chúng tôi tin rằng giáo dục Phật giáo hay những áp dụng giáo lý Phật giáo có thể đóng góp hữu hiệu cho giáo dục hiện đại với một số đăc trưng sau đây :

1) Giáo dục có mục tiêu, đối tượng và nội dung đúng đắn, cụ thể:

Phật giáo nhận định đời là Khổ. Sự nhận định này không mang chút nào tính chất bi quan mà chỉ nói lên một sự thực để rồi tích cực tìm cách thoát khổ. Đó là một thái độ dứt khoát, tích cực và lạc quan với mục tiêu là nhằm giải thoát dần những đau khổ của con người, tiến đến Giải thoát tối hậu, Niết-bàn. Đối tượng giáo dục là con người với những khiếm khuyết tâm linh từ vô thỉ nhưng lại có khả năng tiến đến giải thoát tối hậu. Những khiếm khuyết gây đau khổ ấy như đã nói, chính là Tham, Sân, Si; cho nên, để đối trị với chúng, nội dung giáo dục, theo Phật giáo, là Giới (chủ yếu là để loại bỏ Tham), Định (chủ yếu là để loại bỏ Sân) và Tuệ (chủ yếu là để loại bỏ Si). Tham Sân Si có liên hệ chăt chẽ với nhau nên Giới Định Tuệ là một nội dung nhất thống. Có thể nói, toàn bộ giáo lý của đức Phật là một hệ thống triển khai nội dung Giới Định Tuệ. Trong những ngày cuối cùng trước khi nhập Đại Niết-bàn, trên đường từ Magadha đến Kusinara, đức Phật đã dừng chân ở nhiều nơi và hầu hết Ngài đều khuyên tu Giới Định Tuệ. Ngài đã nhắc đi nhắc lại : “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoăc.”

2) Giáo dục của Trí tuệ và Từ bi :

Khi chưa phải là Trí tuệ tuyệt đối, trí tuệ thường trỏ sự hiểu biết, phân biệt, nhận định đúng đắn, và ở mức độ này, trí tuệ cũng bao gồm những kiến thức thuộc mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh khác nhau. Đây là nội dung được biểu hiện rõ nét nhất của giáo dục từ xưa đến nay. Kiến thức của con người tăng lên khá nhanh và được thể hiện qua những thành công của khoa học kỹ thuật. Nhưng trí tuệ hiểu theo Phật giáo là cái khả năng phá tan vô minh si muội, đoạn diệt sinh tử luân hồi. Tuệ đây là Phật trí, là Tuệ giải thoát. Cho nên, những kiến thức nào không đưa đến giải thoát, làm trở ngại cho giải thoát thì đều không phù hợp với trí tuệ chân thực.

Như đã nói, Tam học Giới Định Tuệ là một nội dung nhất thống Giới không phải là những ràng buộc mà là điều kiện để có tự do, tự tại trong Định để tiến đến Tuệ. Giới chính là sự thực hành đạo đức, điều đầu tiên trong Giới luật Phật giáo là cấm sát sanh, biểu lộ một tình thương đến hết thảy các chúng sanh; các giới khác như không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không dùng chất gây say sưa ... đều nhằm khuyến khích tình thương yêu rộng lớn, sự đoàn kết, tính chân thật và lối sống hiền thiện. Đây là những đức tính chủ yếu được đề cao trong đạo đức học Phật giáo, nổi bật là lòng Từ bi vô lượng. Lòng Từ bi khiến người ta gần gũi nhau, xóa bỏ mọi hiền khích, thương người, thương loài vật, cỏ cây. Người Phật tử tin vào nhân quả luân hồi, làm lành thì găp lành, yêu thương thì được yêu thương, thù hận thì bị thù hận. Tất cả chúng sanh trải qua luân hồi vô số kiếp, đã là và sẽ là cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè thân thuộc của nhau, thế thì không lý gì lại không thương yêu nhau; lại nữa, tất cả đều đang trầm luân trong bể khổ, không lý gì lại ghét hận nhau. Trong rất nhiều bài kinh, kệ nói về lòng Từ bi, chúng tôi xin trích vài câu trong một bài kệ cùng xuất hiện trong “Từ kinh” (metta Sutta) và “Tập kinh” (Sutta Nipata).

“ Mong sao tất cả chúng sanh đều thấy an lạc,

Mong sao tất cả chúng sanh đều đạt được niềm vui tự nội.

.... ....

Như một người mẹ suốt đời chăm sóc đứa con,

Đứa con độc nhất,

Đối với các chúng sanh cũng thế,

Tâm mình phải quảng đại,

Lòng Từ đối với toàn cõi thế gian,

Bên trên, bên dưới và xuyên suốt,

Không bị ngăn ngại vì thù hận và ác tâm.”

Giáo dục phải khơi dậy và phát triển lòng Từ bi trong mỗi con người, từ đó có thể tránh được những hiềm khích, ích kỷ, những hành động gây hại.

3) Giáo dục mang tính nhân bản thực sự, tôn trọng con người, vì con người :

Đức Phật từng dạy rằng được làm người là điều rất quý, rất hy hữu, rằng mọi người đều có Phật tính, đều có khả năng thành Phật. Con người tu học là tu học để làm Phật; muốn thế, con người phải tự nhận biết mình, quay vào Tâm mình để nhận biết Tâm, tu sửa Tâm và chứng ngộ Tâm. Bởi vậy, Phật học xứng đáng được gọi là Tâm học. Trong một mức độ nào đó, nội dung giáo dục Phật giáo có chỗ tương đồng với lời khuyên của Socrate : “Hãy tự biết chính mình” (connais-toi, toi-même), hay của Mạnh Tử : “Vạn vật đều đầy đủ trong ta, quay lại mình một cách thực sự thì đạt được niềm hỷ lạc vô cùng” (vạn vật giai do bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên). Phần lớn các kinh điển Phật giáo, nhất là Thiền tông, thường nỗ lực đưa người học đối diện với chính tâm mình. Lăng-già khẳng định : “Ngoài cái tâm, không có cái gì được nhìn thấy cả” (Tâm ngoại vô sở kiến), hay “Ba cõi chính là tâm mình” (Tam giới duy thị tự tâm).

Giáo dục Phật giáo tôn trọng con người vì con người là một vị Phật tương lai. Mọi người đều có Phật tính nên mọi người đều bình đẳng, không phân biệt nghèo hèn, giai cấp, giới tính, chủng tộc... Giải thoát là tự giải thoát, chứng ngộ là tự chứng ngộ, cho nên giáo dục Phật giáo khích lệ sự tự do, tinh thần sáng tạo, phá chấp của người học, khuyến khích sự tự lực, tinh tấn, niềm tin ở chính mình chứ không trông cậy vào người khác. Điều này biểu lộ tinh thần vô úy của Phật giáo. Đức Phật đã nhiều lần nhắc nhở : “Hãy nương tựa chính mình, chớ nương tựa vào ai khác.” Ngài còn dạy : “Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo hay chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai. Thế thì này Ananda, làm sao Như Lai lại có di giáo cho chúng Tỷ-kheo ?”

V. KẾT LUẬN

Nhìn chung, một nền giáo dục vì con người, đưa con người quay về với chính mình để nhận biết Tâm mình, loại trừ Tham Sân Si, dùng trí tuệ và từ bi để thăng tiến trong hòa điệu với tha nhân, xã hội và thiên nhiên, tạo thiện duyên cho sự tiến bộ tâm linh, giảm thiểu khổ đau để tiến đến hạnh phúc tuyệt đối. Đó chẳng phải là một nền giáo dục đích thực, hữu hiệu nhất hay sao ?

Kính thưa Quý vị,

Giáo dục Phật giáo không đăt năng, không đòi hỏi niềm tin, sự tuân thủ giáo điều của tôn giáo. Giáo dục Phật giáo chú trọng đến sự phát triển của đời sống tâm linh, đạo đức và đòi hỏi sự thực hành theo tiêu chuẩn của giá trị đạo đức giải thoát. Chúng tôi tin chắc rằng những bài tham luận, những ý kiến đóng góp trong cuộc hội thảo này sẽ tạo cái nhìn mới, đúng đắn về giáo dục. Được như vậy, giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại sẽ có thuận duyên để phát triển và sẽ có khả năng lớn trong việc đóng góp vào nền giáo dục của đất nước, của thời đại.

Sau cùng và vô cùng trân trọng, một lần nữa, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và những lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến toàn thể Quý vị đã bỏ thì giờ, công sức quý báu để thực hiện các bài tham luận, chuẩn bị các ý kiến đóng góp xây dựng và hoan hỷ tham dự cuộc Hội thảo này.

Xin cảm ơn Quý vị.

Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học VN.

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552606
    Đang online :26
    Bảng quảng cáo