Bàn về mục tiêu của giáo dục Phật giáo

        Mẫu người lý tưởng của Phật giáo là chư Phật, chư Bồ-tát, chư Thanh văn đệ tử của Phật, chư vị Tổ sư là những vị đã hoàn toàn giải thoát hoăc đã đạt một mức độ giải thoát rất cao. Nhưng đứng về măt giáo dục, ta chỉ nói đến những vị hữu học, cụ thể là chư Tăng Ni và Phật tử tại gia, để cải tiến, hóa độ cho xã hội, cho chúng sanh.

I. MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC :

Qua những định nghĩa về giáo dục, ta có thể nhận định được cái hướng của mục tiêu giáo dục. Đại khái, giáo dục là sự truyền thọ kiến thức, đạo đức và kỹ năng cho người ta, khiến người ta thích nghi với cuộc sống, với thiên nhiên và xã hội. Về sau, giáo dục còn có nghĩa là khiến cho người ta có được khả năng sáng tạo, tự nhận biết mình và phát huy cái tốt vốn có của mình. Như vậy, giáo dục là nhằm cho con người được vươn lên, tiến bộ hơn, phát triển theo chiều hướng tốt hơn, và từ đó cộng đồng xã hội được cải tiến. Giáo dục cũng như những loại hình hoạt động khác của con người; nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người; nói một cách tổng quát là nhằm mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Mục tiêu của giáo dục là nhằm tạo hạnh phúc, nhưng ý nghĩa hạnh phúc từ lâu vẫn được xem là còn mơ hồ và thường gây tranh cãi. Yêu cầu cần có một định nghĩa cụ thể về hạnh phúc với những tiêu chuẩn rõ ràng vẫn chưa được đáp ứng. Tiền bạc, địa vị, tình yêu, sự thành đạt, sự tận tụy, hy sinh v.v...,yếu tố nào mang lại hạnh phúc hay yếu tố nào mang lại hệ quả khổ đau? Mỗi người quan niệm hạnh phúc mỗi cách nên ý nghĩa của hạnh phúc vẫn còn phải tranh cãi. Thế là, cần phải có tiêu chuẩn để đánh giá hành động, cần phải dựa vào đạo đức học, dựa vào giá trị học để định nghĩa hạnh phúc; và vấn đề càng lúc càng phức tạp hơn.

Bao lâu, ý nghĩa hạnh phúc chưa được xác lập thì xã hội còn phải mò mẫm phương hướng phát triển. Lịch sử đã ghi nhận biết bao nền văn minh đã sụp đổ vì những mục tiêu sai lạc trong phương hướng phát triển. Chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật, suy thoái đạo đức, ô nhiễm môi sinh v.v... là kết quả của những sai lạc ấy. Giáo dục phải chia sẻ trách nhiệm với xã hội trước những hậu quả gây khổ đau.

II. MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO :

Dù quan niệm về hạnh phúc vẫn chưa cụ thể và cần có những tiêu chuẩn mang tính chất giá trị học đi kèm, người ta vẫn công nhận rằng mọi hoạt động có ý hướng xây dựng của con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc, và do đó, mục tiêu của giáo dục vẫn là mưu cầu hạnh phúc. Hạnh phúc, theo Phật giáo, chính là sự giải thoát tối hậu. Đức Phật dạy: “Nước biển chỉ có một vị măn, giáo lý của ta chỉ có một vị giải thoát”, và “Xưa nay ta chỉ nói đến một điều là khổ đau và sự giải thoát khỏi khổ đau”. Như thế, theo Phật giáo, mục đích của sự nỗ lực mưu cầu cái hạnh phúc lớn lao nhất, hay hạnh phúc tuyệt đối, chính là sự giải thoát tối hậu. Giải thoát đồng nghĩa với vô ngã, vô tham, vô sân, vô si, thoát khỏi luân hồi, tuyệt đối an tịnh Niết-bàn.

Hạnh phúc của giải thoát có nhiều cấp độ, cũng như giải thoát có nhiều cấp độ mà người ta có thể kinh nghiệm được trong đời sống hằng ngày. Nếu một người xả bỏ được sự chấp ngã, tham, sân, si, giữ tâm an tịnh được chừng nào thì người ấy sẽ cảm nhận được hạnh phúc chừng ấy. Đây là một thực tế mà một người có thể hồi tưởng lại những kinh nghiệm giải thoát từng phần hoăc từng lúc của mình trong đời sống hằng ngày và là một ý hướng về hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai.

Giải thoát khổ đau có nhiều cấp độ như: giải thoát khỏi sự ngu muội, lòng thù hận, sự nghèo khó, một cơn bệnh, một sự bất công, áp bức, nô lệ... Giải thoát ở đây là sự giải thoát từng phần, tương đối, đồng nghĩa với sự giải phóng, sự cải thiện, phát triển....Từ đó, tiến đến sự giải thoát tối hậu là Đại giác ngộ, vô thượng Bồ-đề. Trong ý nghĩa này, mục tiêu của giáo dục Phật giáo cũng bao gồm nhiều cấp độ: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa; đấy là đi từ các mục tiêu trước mắt đến mục tiêu tối hậu, tức giải thoát trọn vẹn. Thực hiện các mục tiêu này, giáo dục Phật giáo nhằm đào tạo những con người trong bối cảnh thiên nhiên và xã hội, phù hợp với tư tưởng giải thoát.

Mẫu người lý tưởng của Phật giáo là chư Phật, chư Bồ-tát, chư Thanh văn đệ tử của Phật, chư vị Tổ sư là những vị đã hoàn toàn giải thoát hoăc đã đạt một mức độ giải thoát rất cao. Nhưng đứng về măt giáo dục, ta chỉ nói đến những vị hữu học, cụ thể là chư Tăng Ni và Phật tử tại gia, để cải tiến, hóa độ cho xã hội, cho chúng sanh.

III. MỤC TIÊU TRƯỚC MẮT CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT NAM.

Thế giới đang không ngừng chuyển mình với những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Cuộc sống vật chất được nâng cao ở nhiều nước, nhưng nhìn chung, tình hình kinh tế vẫn không có gì đảm bảo là được ổn định: Chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật không có dấu hiệu giảm đi; trong khi đó, do lòng tham, con người người đã phá môi trường sống của mình, tài nguyên bị cạn kiệt dần, măt đất, núi, rừng, sông, biển, không khí đều bị ô nhiễm, bị tàn phá. Rõ ràng con người đang tự hủy diệt mình vì ham lợi nhuận trước mắt. Măt khác, những giá trị đạo đức, tâm linh truyền thống bị suy thoái trầm trọng, nếp sống phóng dật, buông thả vẫn phát triển mạnh, hệ quả của nó là bạo lực, vô nhân, chán chường, thất vọng, những tín ngưỡng, những giáo phái ký quái, chứng hoang tưởng và sự khủng hoảng thần kinh. Đó là nỗi đau của toàn hành tinh chúng ta trong thời hiện đại.

Trong bối cảnh ấy, đất nước chúng ta vừa trải qua một thời kỳ dài đấu tranh giành độc lập và tự do. Trong giai đoạn hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước, chúng ta cần có thời gian dài để đầu tư công sức và trí tuệ. Chánh sách mở cửa hiện nay đã đem đến những thành tựu khả quan. Nhưng, như là điều đương nhiên, chúng ta không thể tránh khỏi những dao động, những khó khăn, đau nhức trong buổi giao thời. Sự du nhập ồ ạt của văn minh vật chất, của chủ nghĩa lợi nhuận gây nên sự suy thoái đạo đức, phá hoại những giá trị truyền thống của dân tộc.

Trước mắt, song song với những nỗ lực phát triển đất nước, an sinh xã hội, chúng ta cần phải xây dựng một nền giáo dục vững mạnh khoa học, hợp với truyền thống văn hóa, đạo đức của dân tộc để đáp ứng những yêu cầu đúng đắn của đất nước, của thời đại. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với truyền thống gắn bó với đất nước và dân tộc, phải đóng góp xây dựng nền giáo dục ấy.

Điều trước tiên mà người Phật tử phải học, phải hiểu là làm rõ nét tinh thần tam quy, ngũ giới, biết sống bằng giáo lý giải thoát, sống theo đạo đức Phật giáo với tinh thần từ bi hỷ xả, vô ngã, vị tha. Măt khác, giáo dục Phật giáo Việt Nam có mục tiêu trước mắt là đào tạo lớp Tăng Ni đáp ứng cho giai đoạn phát triển mới của Giáo hội.

Những người mới xuất gia vào chùa phải có thời gian hành điệu để được dạy cho những điều tối thiểu, để được tập sống theo một lối sống đạm bạc, có kỷ luật, có ý niệm vị tha, cầu giải thoát. Đến khi được thọ Đại giới, vị Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni là những bậc thầy dẫn đạo cho hàng Phật tử tại gia và hàng Sa-di, phải là những con người mẫu mực về đạo đức, có trình độ vững vàng về Phật học, đồng thời cũng sở đắc tối thiểu những kiến thức về các môn khoa học kỹ thuật, hành chánh quản trị, văn học, lịch sử, sư phạm, đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, sinh thái học.... Những kiến thức này cần được xem là những phương tiện cần thiết để phục vụ lý tưởng hoằng pháp lợi sanh, phù hợp với căn cơ hiện tại của người tu sĩ hay cư sĩ Phật tử. Những hoạt động chủ yếu của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay nổi rõ nhất là ở các ban Hoằng pháp, Từ thiện xã hội, Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hướng dẫn nam nữ Phật tử, Văn hóa và Nghiên cứu Phật học.... Đây là những hoạt động định hình của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay, đòi hỏi cần có những con người có đức độ, có trình độ Phật học và kiến thức thế học để thực hiện tốt những hoạt động ấy.

IV. TỪ MỤC TIÊU ĐẾN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

Mục tiêu tối hậu của giáo dục Phật giáo là sự giải thoát, những mục tiêu trước mắt là nhằm loại dần những khổ đau, chướng ngại do tham sân si gây nên. Vì con đường giải thoát đã được đức Phật giảng dạy trong suốt 45 năm hoằng hóa của Ngài, nên để thực hiện giải thoát, cần phải tu tập nội dung giáo lý của Ngài, tức Giới, Định và Tuệ. Nhưng đối tượng giáo dục là những con người cụ thể trong xã hội, trong từng thời đại nên để thực hiện, các mục tiêu trước mắt và dài hạn, nội dung giáo dục Phật giáo phải bao gồm những kiến thức thế học. Từ xưa, Phật giáo đã chấp nhận năm ngành kiến thức để phụ trợ cho việc tu hành và cứu độ, tức ngũ minh, vốn là năm ngành học lớn của Ấn Độ cổ (Pânca Vidyà). Đó là : 1\ Ngữ pháp, Luận văn (thanh minh), 2\ Các nghệ thuật và toán học (phương xảo minh), 3\ Y khoa (y phương minh), 4\ Luận lý (nhân minh), 5\ Triết học (nội minh).

Tùy theo nội dung, theo hoàn cảnh và căn tính của từng đối tượng giáo dục, phương pháp và biện pháp thực hiện nội dung cũng rất phong phú, linh động. Nhiều phương pháp sư phạm được đề ra trong giáo dục, từ sự áp đăt, nhồi nhét đến sự khơi dậy khả năng sáng tạo, tôn trọng sự tự do v.v.. Đấy là những trăn trở không ngừng của các nhà giáo dục để nỗ lực góp phần tạo nên những lý thuyết về phương pháp giáo dục mới. Đối với Phật giáo, đức Phật là nhà giáo dục vĩ đại nhất, đã đưa biết bao nhiêu Thánh đệ tử của Ngài tiến đến giải thoát tối hậu. Ta có thể thấy được một cách cơ bản phương pháp giảng dạy của Ngài qua việc phân chia mười hai nội dung ứng với mười hai phương pháp giảng dạy, gọi là mười hai bộ kinh, qua cách phân định chín sự hay bốn loại sự hay bốn tất-đàn...của Phật giáo. Việc phân chia bốn chúng đệ tử Phật cũng phản ánh một tư duy về phương pháp giáo dục của đức Phật. Lại nữa, việc phân thành các tông phái, hệ phái nhiều đến nỗi khó có thể kể hết, thực ra chủ yếu là do chủ trương về phương pháp giáo dục, tu tập mà thôi.

Ý nghĩa chủ yếu trong giáo dục Phật giáo là nhằm vào măt tâm linh, giải thoát khỏi những chướng ngại tâm linh thường khó thực hiện bằng những nội dung giáo dục được truyền thọ như những kiến thức, cho nên phương pháp giáo dục khi truyền đạt cái nội dung bất khả tư nghì đòi hỏi có một tính chất đăc thù, trực tiếp, ngay liền mà ta thường thấy ở Thiền tông với những thoại đầu, công án, với tiếng quát, với gậy hèo..., nhằm thức tỉnh cái khả năng tự chứng tự nội (pratyatma). Đấy là phương pháp hỗ trợ để người học tự phát huy khả năng chứng ngộ của mình. Về ý nghĩa này, Phật giáo đồng tình với Socrate khi triết gia này quan niệm tri thức vốn có sẵn trong mỗi người, giáo dục không phải áp đăt tri thức từ bên ngoài mà chỉ nhằm khơi dậy cái tri thức vốn có, ông thầy giúp học trò thể hiện tri thức của chính họ, giống như bà hộ sinh giúp sản phụ sinh con. Đấy là phương pháp hộ sinh (méthode maieutique) nổi danh của Socrate.

Có một lần, có người đàn bà ôm thây con mình đến xin Phật cứu, Phật dạy bà ấy đi xin một nhúm tro ở nhà nào xưa nay chưa có người chết đem về, Ngài sẽ cứu cho. Người đàn bà theo lời Phật đi xin tro. Khi đụng thực tế, bà ta tỉnh ngộ, lăng lẽ đem thây con chôn, trở về thưa lại Phật : “Bạch Thế tôn, việc Ngài dạy con đã làm xong”. Đức Phật đã dùng phương pháp dạy người ta tự tỏ ngộ, giải quyết vấn đề của mình vậy.

V. KẾT LUẬN

Quy luật chuyển biến của tự nhiên và của xã hội khiến cho giáo dục phải chuyển biến để thích nghi với cuộc sống. Đạt đến giải thoát tối hậu là vượt khỏi thế giới hiện tượng, hữu vi này. Trong cái tương đối, hiển nhiên ta phải chọn những mục tiêu trước mắt để rồi xây dựng cái lâu dài, cho đến khi đạt cứu cánh. Cái mục tiêu trước mắt là cái tùy thuận nhân duyên, hoàn cảnh để cải tạo hoàn cảnh, để được giải thoát theo từng cấp độ. Vậy có thể hiểu những mục tiêu trước mắt của giáo dục là những phương tiện để đạt cứu cánh ; những phương tiện thì được dùng rồi bỏ đi để tìm đến những phương tiện mới cho hoàn cảnh mới. Đấy là ý nghĩa của sự thăng tiến, tinh tấn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Những gì chưa phải là mục tiêu tối hậu, là cứu cánh giải thoát thì đều phải được vượt qua để tiến lên. Do đó, những mẫu người mà giáo dục nhằm đào tạo phải có những tiêu chuẩn ngày càng cao.

Ngoài mục tiêu tối hậu là giải thoát, các mục tiêu của giáo dục phải dựa vào và mang sắc thái của từng địa phương, đất nước và thời đại. Điều này nhắc nhở các nhà giáo dục cần thận trọng trong việc đề ra mục tiêu cũng như nội dung và phương pháp giáo dục. Đối tượng giáo dục, cụ thể là những con người thọ nhận giáo dục thì gồm nhiều căn tính, trình độ và hoàn cảnh khác nhau ; cho nên mục tiêu đào tạo cũng được đăt ra theo từng cấp độ khác nhau và những phương pháp hay biện pháp thực hiện cũng phải linh động khác nhau.

Sau cùng, để thực hiện mục tiêu giáo dục, tưởng cũng nên lưu ý đến một ý nghĩa khá quan trọng của giáo dục Phật giáo. Từ “Giáo dục” được dùng ở Trung hoa, Nhật bản, Việt Nam...khá chậm, khoảng thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, nhằm dịch từ “Education” của Tây phương. “Education” có gốc La-tinh là “Éducatus”, động từ “Educacere”, nghĩa là nuôi nấng, dạy dỗ, dẫn đi tới.. Trong khi đó, kinh điển Phật giáo dùng từ “Giáo hóa” để dịch từ “Paripae” của Phạn ngữ. Các sớ luận thường giảng rằng Giáo là lấy thiện pháp mà dạy cho người ta, Hóa là làm cho người ta xa rời ác pháp. Giáo hóa là lấy thiện pháp dạy người ta, khiến người ta cảm hóa. Kinh dạy : “Chuyển pháp luân vô thượng mà giáo hóa chư Bồ-tát, giáo hóa, an lập vô số chúng sanh, khiến họ an trú vào đạo chân chánh vô thượng, chuyển ác thành thiện, chuyển phàm hóa Thánh” Rải rác trong các kinh Đại Bổn của Trường A-hàm, Tăng Nhất A-hàm quyển 1, Pháp Hoa quyển 4.. ta còn thấy các từ dùng thay cho giáo dục : khai hóa, nhiếp hóa, thí hóa, khuyến hóa..., trong đó, từ “Hóa” có ý nghĩa quan trọng, chỉ sự làm cho chuyển biến, khiến cho trở nên, hóa thành. Mục tiêu của giáo dục được xác lập là làm cho đối tượng giáo dục có được sự biến đổi, chuyển hóa như “chuyển phàm hóa Thánh”, hoăc thậm chí có sự nhảy vọt, sự siêu việt hóa, sự đột chuyển (paravritti) như nhiều kinh luận chủ trương, cụ thể là sự chuẩn bị đưa đến “đốn ngộ” mà Thiền tông vẫn nỗ lực thực hiện.

Từ mục tiêu của giáo dục Phật giáo, ta cũng thấy được một cách cơ bản tính thiết thực, sinh động, sáng tạo và nhân bản của nội dung, phương pháp và của chính giáo dục Phật giáo vậy.


HT Thích Thiện Siêu

 

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552606
    Đang online :26
    Bảng quảng cáo