Hiện đại hóa đất nước bằng quan điểm giáo dục Phật giáo

        Hiện nay, người ta thường nói tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa, thực ra cũng chỉ là một cách nói khác của hai chữ Đổi Mới toàn diện của dân tộc Việt Nam đã có từ Đại hội Đảng 1985, và đích thực hai chữ Đổi Mới lại là sự chuyển mình của hai chữ Cách Mạng Việt Nam mà thôi.

Nói tới dân tộc và đất nước Việt Nam, nghĩa là, chúng ta muốn nói tới một phần nhân chủng học và địa chất học của toàn thể nhân loại và trái đất này. Theo các nhà nhân chủng học, thì con người bắt đầu có măt trên hành tinh này cách đây 3.000.000 năm, dựa trên ba dữ kiện chính:

1- Các đồ dùng, như cổ thạch khí, nguyên thạch khí, trung thạch khí, tân thạch khí (đá đập, đá đẻo, đá mài), sơ đẳng lâm nghiệp, ngư nghiệp và nông nghiệp, đồ đồng, đồ sắt, điện lực, ô tô, tàu thủy, tàu hỏa, tiểu công nghiệp, máy bay, nguyên tử, phi thuyền không gian v.v...;

2- Những vết tích nơi ở;

3- Các di tích bộ xương hóa thạch;

Mà người ta đã tìm thấy ở Âu châu, Á châu và Phi châu, từ loài linh chủng (primates) tới dã nhân (pongidés), giống Australopithèques (ba triệu năm), giống Homo Habilis (hai triệu năm), giống Homo Erectus (một triệu rưỡi năm), giống Homo Sapiens (hai trăm nghìn năm), và giống Homo Sapiens, (con người khôn ngoan hiện nay, từ một trăm nghìn năm tới ba mươi lăm nghìn năm).

- Còn trái đất, theo các nhà địa chất học, dựa trên phương pháp trắc nghiệm thời gian, tuổi của hành tinh này, bằng cách giải thể nguyên tố phóng xạ (La désintégration des radioéléments), thì đã được 4, 6 tỷ năm, tính từ 1991 trở về trước. Như vậy, rõ ràng là: môi trường sinh thái đã có trước con người chúng ta rất lâu.

- So với đạo Phật, đức Phật không đăt năng những vấn đề siêu hình, trừu tượng, vì chỉ mất thì giờ và không mang lại những điều lợi ích thực tiễn cho con người. Tuy nhiên, vấn đề đầu tiên thành lập vũ trụ và nhân sinh, đức Phật cũng có đề cập tới trong Kinh Trường A Hàm, Trung A Hàm và Khởi Thế Kinh. Nhưng thực tế, Bốn căp câu hỏi (Avyakata hay Avyakrta-vastuni) của đệ tử Ngài như Malunkyaputta đăt ra để hỏi đức Phật trong Kinh Culla Malunkyaputta Sutta, và cũng Bốn căp câu hỏi ấy của Vacchagotta, một đạo sĩ Bà la môn, cũng nêu ra để thỉnh vấn đức Phật trong Kinh Aggi-Vacchagotta Sutta, cả hai đều nằm trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), đức Phật đều giữ thái độ im lăng và không trả lời.

Bốn căp câu hỏi đó là:

1- Thế giới này hoăc là vĩnh cửu, hay không, hay cả hai, hay không cả hai?

2- Thế giới này hoăc là hữu biên, hay vô biên, hay cả hai, hay không cả hai?

3- Sau khi chết, đức Phật hoăc còn tồn tại, hay không, hay cả hai, hay không cả hai?

4- Linh hồn với thể xác giống nhau, hay khác nhau?

- Bốn câu hỏi trên được lược thuật trong hai trường hợp khác nhau như sau;

I- Malunkyaputta, một đệ tử của Phật đã tới bạch Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn, có nhiều vấn đề Ngài còn bỏ qua mà chưa giảng dạy, thí dụ như: Thế gian này là vĩnh cữu hay không, hữu hạn hay vô hạn; linh hồn và thể xác là giống nhau hay khác nhau; đức Phật sau khi chết, còn tồn tại hay không tồn tại?

Thái độ im lăng của Ngài làm cho lòng con không được toại nguyện. Vậy nay, kính xin Ngài hoan hỷ chỉ dạy cho những điều ấy. Nếu không, con xin bỏ đạo để trở về với cuộc đời thế tục. Bậc Đạo sư là người chân chính, thẳng thắn nói ra những điều mình biết; và xác nhận điều gì mình không biết. Bởi vậy, Ngài cứ thẳng thắn dạy bảo cho con.

Ngay sau đó, đức Phật dạy: Này Malunkyaputta, trước đây có bao giờ Ta nói: Nếu con theo Ta, Ta sẽ giảng dạy cho con những hiểu biết về siêu hình hay không?

- Bạch đức Thế tôn, không bao giờ như vậy.

- Hay là trước đây, có khi nào con nói với Ta: con chỉ theo Ta nếu Ta giảng dạy cho con những hiểu biết về siêu hình hay không?

- Bạch đức Thế tôn, không bao giờ như vậy.

- Như thế, con còn phiền trách làm chi: Con nên hiểu rằng, người nào muốn hiểu rõ mọi chân lý huyền vi của vũ trụ và nhân sinh; trước khi nghe Ta giảng dạy thì người đó đã chết mất rồi! Cũng như một người kia bị bắn trúng mũi tên độc; thay vì để cho y sĩ rút mũi tên độc ra và băng bó vết thương; nhưng lại đòi trước hết phải cho y biết tên tuổi, hình dáng, giai cấp và xứ sở của kẻ sát nhân rồi, mới chịu để cho cứu chữa. Vậy Malunkyaputta ơi, người bị thương đó chắc chắn sẽ chết trước khi được nghe lời giải đáp.

Này Malunkyaputta, sở dĩ ta không giảng dạy cho con những hiểu biết về siêu hình, vì những điều đó không có lợi ích gì cho sự thoát khổ cuộc đời. Thay vào đó, Ta đã trực tiếp giảng dạy cho con bốn chân lý huyền diệu (Tứ đế), Tám con đường sống chân chính (Bát chính đạo), và mười hai lý nhân duyên (Thập nhị nhân duyên), vì đó là những nền tảng giáo dục nhân bản cần thiết của Phật giáo để cứu giúp mọi người diệt trừ được những mầm mống khổ đau, và đạt tới đỉnh cao hạnh phúc, tự do cũng như giác ngộ, giải thoát, ở ngay cuộc đời này và hiện tại.

II- Một hôm đức Phật ở nước Xá Vệ, nơi tu viện thái tử Kỳ Đà, trong vườn Lộc uyển của ông Cấp Cô Độc, có một đạo sĩ Bà la môn, tên là Vacchagotta, đến kính thăm Phật, và cũng đăt bốn vấn đề siêu hình như trên để xin đức Phật giải đáp, hoăc chấp nhận hoăc phủ nhận.

- Đức Phật trả lời: Ta phản đối tất cả bốn vấn đề này, và không chấp nhận bất cứ một vấn đề siêu hình nào.

- Vacchagotta lại hỏi thêm: vậy đức Phật có một học thuyết riêng nào không?

- Đức Phật đáp: này Vacchagotta, Ta hoàn toàn giải thoát và vượt qua tất cả các học thuyết...

- Sau cùng, Vacchagotta phát biểu: Tuy vậy, đức Phật đã giảng dạy giáo lý bằng nhiều cách khác nhau, đều nhằm mục đích thực tế là: cứu khổ, độ sinh. Vì vậy, con xin quy Phật, quy Pháp và quy Tăng. Kính xin Phật nhận cho con được quy y Ngài và, kể từ nay cho tới trọn đời, con được làm đệ tử của Ngài([1]).

- Như vậy, pháp môn thực tiễn giáo dục của Phật nhằm cứu khổ chúng sinh, đối với 94 quan điểm trong kinh Phạm Võng, và 63 luận thuyết siêu hình và trừu tượng của các giáo phái ngoại đạo trong kinh Sa Môn Quả, đức Phật đều bác bỏ, hoăc bằng im lăng hay ẩn dụ, chúng ta không thể phê phán đức Phật là Bất khả tri (agnosticisme) hay tiêu cực (négativisme), mà là vị Đại lương y cứu khổ cả thể xác và tâm hồn tùy theo từng căn bệnh mà cho thuốc.

Xuyên qua thái độ giảng dạy thực tiễn cứu khổ của đức Phật nói trên, chúng ta được hiểu thêm rằng: xã hội Ấn độ bấy giờ hay bàn các vấn đề trừu tượng, siêu hình và mê tín dị đoan, dưới sự lãnh đạo tâm linh của các tu sĩ Bà la môn bằng những nghi lễ cúng tế phức tạp và thoái hóa, chỉ tổn phí tiền của và mất thì giờ vô ích, trong khi toàn dân Ấn độ đương chìm đắm trong những ảo tưởng, và khổ não triền miên... Đúng lúc, đạo Phật ra đời như những tiếng chuông cảnh tỉnh, và giác ngộ cho mọi người được bừng sáng, ra khỏi những đêm trường ác mộng. Không khác nước Hy lạp trong thời đại trước Socrate và Aristote, phần nhiều người ta chỉ sống bằng những thứ triết học viễn vông và ảo tưởng, cho nên Cicéron, một nhà chính trị và hùng biện La mã, đã phê phán kịch liệt về lối sống siêu hình của Hy lạp ngày xưa rằng:

“Socrate đã kéo triết học từ trên trời xuống măt đất”. Nghĩa là từ trừu tượng, hư vô trở thành thực tiễn và thực dụng. Đồng thời người ta còn nhận định phương pháp giáo dục của Socrate và Aristote là một nghệ thuật gợi cảm, gợi ý, chứ không áp đăt tư tưởng hay giáo điều, không khác một người hộ sinh chỉ làm việc đỡ đẻ, chứ không thay thế cho quy luật thiên nhiên, đó là phương pháp La Maieutique của Socrate, hay phương pháp du hóa của Aristote vậy (Le péripatétisme d' Aristote); cũng như cách giáo hóa của đức Phật là Trung đạo (Majjhima patipada), tùy theo từng trình độ, căn cơ và hoàn cảnh của mỗi người, chứ không Duy tâm, Duy vật, Duy thần, hay bất cứ Duy gì, đều là cực đoan tư tưởng và áp đăt giáo điều, vì sự sống của con người phải là toàn diện, không thể phiến diện và định kiến được. Thí dụ, trong kinh Kalama-sutta, đức Phật dạy rằng:

- “Đừng tin những điều nghe nói, hay những cổ truyền, những điều truyền lại từ thời đại xa xưa, những tin đồn, những tranh luận, những luận ý diễn dịch, những hình thức bề ngoài, những ý kiến ưa chuộng, những biện luận và những điều khả dĩ. Và càng đừng tin rằng: ta là Đạo sư của ông. Nhưng nếu chính ông đã thấy bằng kinh nghiệm của mình rằng, đó là điều ác và sẽ dẫn tới sự bất hòa và khổ đau, thì ông phải chối bỏ và chính ông đã thấy bằng kinh nghiệm riêng của mình rằng, đó là một việc thiện và không thể chê trách và sẽ mang tới hạnh phúc và an vui, thì ông phải thực hành”([2]).

Cũng tiếp theo tư tưởng giáo dục của đức Phật, William James (1842-1910), một nhà đại triết học Mỹ, đã nêu lên chủ thuyết Thực dụng (pragmatism) mà đã góp phần làm cho nước Mỹ được dân giàu, nước mạnh và hiện đại hóa cũng như công nghiệp hóa toàn diện như hiện nay. Thế nhưng, hiện nay, nền giáo dục của Mỹ vẫn còn bị vướng mắc, không khác một con voi khổng lồ đương bị sa lầy giữa một vực thẳm bùn nhơ, về măt đạo đức của nếp sống lành mạnh cho các thế hệ trẻ, như phá thai, bạo động, ma túy và các chứng bệnh Aids và HIV. Đấy là cả một thử thách, một trở ngại to lớn cho toàn dân Mỹ, làm sao có một lối thoát cấp bách và cụ thể trên đường sống văn minh, tiến bộ của lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ, một nền giáo dục nhân bản của toàn thể thế giới Tây phương, trong đó có dân tộc Mỹ.

Để bổ sung và cao đẹp hóa cho nền giáo dục Việt Nam và thế giới hiện nay, chúng tôi muốn đưa ra một vài chủ trương giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại để góp phần đào tạo con người và xây dựng xã hội trên cơ sở giáo lý của đạo Phật. Vậy, nói tới con người và xã hội, nghĩa là, tìm cách giải quyết đời sống cụ thể của con người, và môi trường sống con người. Nói theo Phật giáo, thì chúng ta phải giáo dục song phương, đồng bộ cả nếp sống chính báo (bản thân con người) và y báo (môi trường sống xã hội) sao cho có văn minh, tiến bộ trong vấn đề cơm áo, việc làm, nhà ở, thuốc thang, và giáo dục. Cụ thể mà nói, Phật giáo phải có cả một chương trình giáo hóa và đào tạo, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

- “Vì lợi ích mười năm ta phải trồng cây;

Vì lợi ích trăm năm ta phải trồng người”.

Riêng Phật giáo cũng phải có:

                                     I-      Hệ thống giáo dục;

                                   II-      Phương pháp giáo dục;

                                   III-      Đối tượng giáo dục;

                                   IV-      Nội dung giáo dục;

                                    V-      Mục đích giáo dục.

I- HỆ THỐNG GIÁO DỤC:

Theo hệ thống giáo dục của đạo Phật Việt Nam, thì dân tộc ta thường có câu ca dao rằng:

“Thứ nhất thì tu tại gia;

Thứ nhì tu chợ;

Thứ ba tu chùa.”

Riêng chữ Tu ở đây có nghĩa là Tu học, Tu dưỡng thân tâm, đổi mới nếp sống hàng ngày về cá nhân, gia đình, xã hội và Phật giáo.

- Về cá nhân , mỗi người Việt Nam phải sống, làm việc và hưởng thụ đúng theo năm nguyên lý đạo đức nhân bản của nhà Phật. Đó là:

1- Phải tôn trọng sự sống và quyền sống căn bản của mỗi người trên bình diện giới không sát sinh để giữa mình và người đều chung sống và chung hưởng một nếp sống hòa bình, chấm dứt mọi hình thức chiến tranh.

2- Phải tôn trọng quyền sở hữu và tài sản của mỗi người, không tham nhũng lạm quyền, đều dựa trên cơ sở không trộm cắp và hối lộ quyền lợi công tư. Nghĩa là, có sống, có làm việc, và có lợi nhuận công bằng, hợp tình hợp lý.

3- Phải có nếp sống hôn nhân yêu thương và quý trọng lẫn nhau trên tiêu chuẩn bình đẳng. Nghĩa là, phải ăn ở thủy chung tới đầu bạc, răng long, không mại dâm, không ngoại tình trên giới điều bất tà dâm, trong tinh thần độc thê chứ không thể đa thê. Chỉ như vậy, thì mới có một nếp sống ấm êm và hạnh phúc, vì thuận vợ, thuận chồng, bể đông tát cũng cạn.

4- Phải tôn trọng tự do phát biểu những lời nói có tinh thần xây dựng và hòa cảm, có lợi mình, lợi người, bởi lẽ một lời nói có thể xây dựng đoàn kết, làm quốc gia phồn vinh, trái lại, cũng một câu nói có thể gây ra chia rẽ, làm suy yếu sự hùng mạnh và lợi ích cho cả toàn dân. Bởi vậy, theo giới của Phật, thì chúng ta không nói bậy, trước măt sau lưng, không dùng những lời thô bạo và nói tục, để chứng tỏ thân tâm và ngôn ngữ của chúng ta đều trong sáng, lịch sự và có văn hóa giáo dục đối nội cũng như đối ngoại.

5- Không nên dùng rượu chè, ăn chơi bừa bãi và càng không được dùng những thứ ma túy làm mê mờ trí tuệ, có thể làm băng hoại cả một cuộc đời của giới thanh niên nam nữ, có ảnh hưởng tiêu cực và suy yếu tới khắp măt đời sống của dân tộc Việt Nam đương tiến bộ vươn lên, để xứng đáng với truyền thống cao đẹp của nòi giống Tiên Rồng yêu nước, anh hùng, và văn minh tiến bộ.

- Về gia đình:

Giáo dục gia đình được dựa theo lời dạy của đức Phật trong kinh Thiện Sinh, thuộc Trường Bộ Kinh (Singalovada, Digha Nikaya), quy định rõ sáu quan hệ và quyền hạn của mỗi thành viên trong gia đình, ăn ở và đối xử với nhau sao cho hợp tình, hợp lý của một nếp sống chung gương mẫu. Đó là:

                                1- Cha mẹ con cái;

                                2- Thầy trò;

                                3- Vợ chồng;

                                4- Bạn bè;

                                5- Chủ, thợ hay người giúp việc;

                                6- Tu sĩ, cư sĩ.

Nói chung, giáo dục gia đình Phật giáo, ở đây, chúng tôi chỉ tóm lược, và nêu rõ Bốn điều chủ yếu:

a- Gia đình giáo dục này thuộc về giai cấp trung lưu, chứ không nghiêng về gia đình giàu và nghèo.

b- Bổn phận và quyền lợi đều tương xứng với chức năng và việc làm cụ thể.

c- Kinh tế xây dựng chung trên cơ sở bình đẳng, chứ không phải tư bản bóc lột.

d- Nam nữ, vợ chồng hay chủ thợ phải sống chung, làm việc chung và hưởng thụ chung trên nguyên tắc Bình quyền và Nhân ái.

- Ngoài ra, hệ thống giáo dục, theo kinh Pháp Hoa, thì phải chia thành Ba Cấp, nhưng cuối cùng là giáo dục và đào tạo mỗi người thành người giác ngộ, giải thoát và dũng mãnh, nghĩa là, khai tam, hiển nhất: tiểu học, trung học và đại học, song cuối cùng ai nấy đều thành Phật, có đầy đủ đức hạnh, trí tuệ, tiến bộ cho chính nếp sống bản thân và giúp đỡ mọi người.

- Về xã hội:

Giáo dục xã hội, theo Phật giáo, được xây trên:

I- Sáu nguyên tắc Hòa Hợp, theo chủ thuyết Lục hòa được quy định trong Luật tứ phần Hành Sự Sao và Tổ Đình Sự Uyển như sau:

1- Thân hòa chung sống hòa hợp, đoàn kết, thân thương và bình đẳng để cùng xây dựng, và duy trì một xã hội tiến bộ và văn minh.

2- Khẩu hòa không tranh chấp, và tôn trọng tự do ngôn luận.

3- Ý chí cương quyết, hòa hợp, làm việc chung để duy trì những truyền thống tốt đẹp, và bảo vệ những thành quả và sống còn của xã hội, trong đó có sự tồn tại của mỗi người.

4- Luật pháp và giới luật cùng phải tự giác chấp hành nghiêm chỉnh, trong tinh thần thượng tôn hiến pháp, luật lệ của nhà nước và thực học, hành trì giới luật của đức Phật. Được như vậy, đất nước mới có kỷ cương, và tôn giáo mới có tổ chức nề nếp.

5- Ý kiến phải hòa hợp, trao đổi để giải quyết chung mọi vấn đề: như tham nhũng, hối lộ, mại dâm, ma túy, cờ bạc, trộm cướp, rượu chè trác táng và biến chất.

6- Quyền lợi và hạnh phúc cần phải phân chia hòa hợp và bình đẳng, trên nguyên tắc kinh tế bình đẳng. Nghĩa là, có làm thì có ăn trên nguyên lý tương xứng, làm việc bằng tay chân, hay bằng trí óc, kể cả phương pháp kinh tế thị trường hiện nay.

- Còn về giai cấp xã hội chẳng qua cũng chỉ là một cách phân công hợp lý như nhà xã hội học Pháp, Émile Durkheim 1858-1917- đã viết trong cuốn “Phân Công Xã Hội” (De Division du Travail Social), bởi lẽ đức Phật hoàn toàn bác bỏ bốn giai cấp bất công của xã hội Ấn độ đương thời, mà đức Phật cho đều là bình đẳng và trong sáng trong một bài kệ của kinh: Sutta Nipata, verse 136 như sau:

- “Không có giai cấp Bà la môn do giòng giống sinh ra;

Không có giai cấp Pariah do giòng giống sinh ra;

Bằng việc làm cụ thể, mới có thể gọi là người Pariah;

Bằng việc làm cụ thể, mới có thể gọi là người Bà la môn”.

Ngoài ra, muốn có một xã hội dân chủ bình đẳng thì, theo đức Phật, phải có bảy nguyên tắc dân chủ tự do, dựa trên Trường Bộ Kinh:

1- Này Anan, thầy có nghe nhân dân Bạt kì (Vajjis) thường hội họp đông đảo với nhau không?

Đại đức Anan bạch Phật:

Bạch đức Thế tôn, thường hội họp đông đảo là truyền thống của họ.

2- Đức Phật dạy: Này Anan, đó là sức mạnh và cường thịnh của họ. Và thầy có nghe dân chúng Bạt Kì hội họp, làm việc giải tán trong tinh thần đoàn kết và hòa hợp không?

Đại đức Anan bạch Phật;

Bạch đức Thế tôn : Đó cũng là truyền thống của họ.

3- Đức Phật dạy: Này Anan, đó cũng chính là sức mạnh và sự cường thịnh của họ. Và thầy có nghe nhân dân Bạt Kì không bao giờ ban hành những pháp luật không hợp lệ, không thích hợp, không đáng ban hành, cũng như không bãi bỏ những luật lệ và truyền thống tốt đẹp không?

Đại đức Anan bạch Phật:

Bạch đức Thế tôn : Đó chính là truyền thống của họ.

4- Đức Phật dạy: Này Anan, đó là sức mạnh và sự cường thịnh của họ. Và này Anan, thầy có nghe thấy dân chúng Bạt Kì tôn trọng, và học hỏi những bậc trưởng lão, những người tài đức không?

Đại đức Anan bạch Phật: Đó chính là truyền thống của họ.

5- Đức Phật dạy: Này Anan, đó chính là sức mạnh và sự cường thịnh của họ. Và này Anan, thầy có nghe thấy, nhân dân Bạt Kì luôn luôn được quốc vương hay quốc chủ giúp đỡ và nâng cao dân trí, không có việc áp bức, và cưỡng bắt các phụ nữ, thiếu nữ làm vợ mình và hà hiếp họ không?

Đại đức Anan bạch Phật: Đó chính là truyền thống của họ.

6- Đức Phật dạy: Này Anan, đó sẽ giữ được sức mạnh và sự cường thịnh lâu dài. Và này Anan, nhân dân Bạt Kì có hay ủng hộ các chùa chiền có đạo hạnh, có tu học và làm sáng tỏ truyền thống tốt đẹp này?

Đại đức Anan bạch Phật: Đó chính là truyền thống của họ.

7- Đức Phật dạy: Này Anan, dân chúng Bạt Kì sẽ cường thịnh và an ninh. Và này Anan, dân Bạt Kì có tôn trọng nếp sống đạo đức có ủng hộ các bậc hiền triết, có triệu tập các bậc tài đức ở trong và ngoài nước và tạo điều kiện thuận lợi để giúp họ hoạt động và phát triển không?

Đại đức Anan bạch Phật: Đó chính là truyền thống của họ.

Đức Phật dạy: Này Anan, nhân dân Bạt Kì sẽ mãi mãi độc lập và phồn vinh.

Thêm vào đó, người đứng đầu lãnh đạo đất nước, hoăc là vua chúa hoăc là quốc chủ phải là người có đạo đức, tài ba, kinh nghiệm, và phải do dân chúng lựa chọn, bầu ra([3]). Đồng thời, khi điều khiển bộ máy quốc gia phải bằng Pháp trị công bằng, nghĩa là, bằng chính pháp mà được áp dụng cụ thể cho toàn dân bằng mười điều phước thiện (Thập thiện) trong tinh thần tự giác, tự hành và tự nhiệm của mỗi công dân:

I- Về Thân Thể có ba giới :

1- Không sát sinh trong ý nghĩa không gây chiến tranh;

2- Không bóc lột hay trộm cướp những tài sản của người khác;

3- Không có quan hệ nam nữ bất chính, nghĩa là, xây dựng gia đình vợ chồng sống chung hợp tình, hợp lý trên luật lệ hôn nhân; nghiêm cấm vấn đề bán dâm (mại dâm) và mua dâm (mãi dâm) bất chính dưới bất cứ hình thức và tổ chức nào.

II- Lời nói gồm bốn điều độc ác:

1- Nói sai sự thật.

2- Nói thêu dệt.

3- Nói hai chiều, trước măt và sau lưng.

4- Nói lời gian ác, thô bạo, nói tục, chửi thề.

III- Ý tưởng có 3:

1- Tham lam, ích kỷ;

2- Nuôi những ý niệm hận thù và gây cho người ta những sự báo thù, trả oán, còn tàn bạo hơn những loài dã thú nơi rừng hoang.

3- Si mê, điên đảo, thiếu giáo dục và văn minh, măc dầu con người được xếp vào loài cao đẳng động vật. Với Phật giáo, thì con người dễ giáo hóa, vượt trên cả trời và thú vật, không đến nỗi quá định kiến, tà kiến, mê tín và đam mê.

Mà chính tiêu chuẩn Thập thiện nói trên cũng đã được Phật Việt Nam, Điều Ngự Giác Hoàng, vua Trần Nhân Tôn, sáng lập phái Thiền Trúc lâm, vào năm 1304, theo sách Tam Tổ Thực Lục. Ngài đã dấn thân trên đường hoằng pháp độ sinh, từ thành thị tới khắp thôn quê, để giảng dạy cho nhân dân biết thực hành Thập thiện, và loại bỏ tất cả mê tín, dị đoan và các dâm từ, tà thần, ma quỷ. Cũng như, sau khi thành Phật, Phật Thích Ca đã trực tiếp khuyến khích các đệ tử: “Hãy mau lên đường giác ngộ và giáo hóa, vì lợi ích và hạnh phúc chung cho số đông và toàn thế giới, cũng như vì lợi ích và hạnh phúc chung cho cả trời và người.”([4])

Theo Max Weber, một nhà xã hội học người Đức, đã đề cao lý tưởng lợi tha của các Bồ tát cao đẹp và đại đồng hơn các đức Phật, vì các Bồ tát không muốn vào Niết bàn, mà muốn dấn thân vào vòng luân hồi sinh tử, để làm tròn sứ mạng cứu khổ và giác ngộ cho tất cả loài người.([5])

II- PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC:

1- Phổ thông và đại chúng, so với Phật giáo là cần học hỏi và hiểu rõ giáo lý phổ thông của đức Phật.

2- Học tập và quán triệt các pháp môn Luận lý, Biện chứng và Triết học cả trong Đạo và ngoài Đời.

3- Ngôn ngữ học và văn học đều phải được truyền đạt và tiếp thu trong các Phật học đường và các trường học công tư ngoài đời.

4- Khoa học và kỹ thuật, nói riêng về Phật học, chúng ta cũng đọc thấy trong Câu Xá Luận và các sách của Kinh Lượng Bộ. Thí dụ: Câu Xá Luận thì cho rằng: Thuyết Nguyên tử cực vi có 3 loại: 1 là vi tế cực vi (parama-anu), 2 là hữu hình cực vi (anu), 3 là vi trần cực vi (rajas). 7 vi tế cực vi tạo thành 1 hữu hình cực vi tạo thành 1 vi trần cực vi mà chỉ có Phật, Bồ tát và A la hán mới có thể thấy được bằng pháp môn Thiền định, thêm vào đó, phân lượng thời gian ngắn nhất của cực vi này vận chuyển tương ứng với 1 cực vi khác. Như vậy, không gian và thời gian luôn luôn tương quan với nhau([6]) Còn Kinh Lượng Bộ lại chứng minh rằng: tính chất nguyên tử của các thành tố trong một tràng hiện tượng, mỗi giây phút một sự vật mất đi, lại được thay thế bằng một sự vật mới, đó là hậu quả của một sự vật sau cùng. Vũ trụ quan này, cũng thấy trong các trường phái khác của Phật giáo, đều giống như thuyết Lượng tử của khoa học vật lý hiện đại([7]), kể cả hai Thiền sư Việt Nam - Khánh Hỉ và Pháp Dung- đời nhà Lý cũng dạy rằng:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng,

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

Nghĩa là: Vũ trụ chỉ bằng đầu sợi lông, Thái dương hệ nằm tròn trong hạt cải. Thế nhưng, với thời hiện tại, đều phải được giảng dạy và vận dụng cụ thể, để nâng cao đời sống kinh tế, văn minh và tiến bộ cho toàn dân, từ thấp lên cao, với tự lực, tự cường của chúng ta, cộng với sự giúp đỡ của các nước bạn trên khắp thế giới.

5- Y học phải kết hợp cả Đông Tây, đều nhằm giáo dục và đào tạo những bác sĩ, y sĩ, y tá và các chuyên viên hộ sinh, cũng như các dược sĩ, giàu kinh nghiệm trong việc phòng ngừa và điều trị các chứng bệnh hiểm nghèo và nan y hiện nay, như:

- Tiểu đường.

- Ung thư.

- HIV/AIDS.

Và theo lời Phật dạy Ngũ minh trong :

a- Đại Phương Tiện Phật Báo Ân kinh.

b- Bồ Tát Địa Trì kinh.

III- ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC

Theo như Trường A Hàm, Trung A Hàm và Khởi Thế kinh, đức Phật dạy: khi vận mệnh suy thoái và tiêu cực của loài người đã tới, thì sẽ có bốn hiện tượng suy đồi và tiêu vong, cụ thể là những quốc gia kém phước đức và gây nhiều tội ác, thì toàn thể nhân dân phải tích cực học làm những điều thiện và tránh những việc ác. Nghĩa là, từ quan chức đến thường dân cố gắng đồng tâm nhất trí, để chuyển hóa bốn cộng nghiệp thành bốn việc làm nhân ái hợp lòng dân, và đáp ứng những nguyện vọng chung của mọi người, bởi lẽ bốn hiện tượng suy thoái xảy ra, là do:

1- Vận mệnh chung của đất nước.

2- Chính những người dân đã gây ra tội ác, đi ngược lại những quy luật thiên nhiên và những luật lệ cũng như truyền thống văn minh, cao đẹp của dân tộc.

3- Do các nhà lãnh đạo quốc gia thiếu nhiệt tình giúp đỡ nhân dân, không đủ phẩm chất tài đức, lợi dụng chức năng của mình để tham nhũng.

Bởi vậy, mới có bốn hiện tượng suy đồi như sau:

      1- Nghèo đói, thất nghiệp.

      2- Bệnh tật trầm trọng.

      3- Chiến tranh chém giết lẫn nhau.

      4- Ngu si, thất học và gian ác.

Muốn chuyển biến, đổi mới toàn bộ bốn việc tiêu cực nêu trên, nhà nước và nhân dân cùng cương quyết lật ngược lại bằng bốn điều phước thiện cụ thể:

1- Hiện đại hóa và công nghiệp hóa nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đại công nghiệp hóa, trồng trọt hoa màu và chăn nuôi gia súc, để cho mọi người đều có cơm ăn, việc làm theo tiến trình văn minh và thực tiễn.

2- Phải xây thêm bệnh viện, bệnh xá, chẩn y viện và những văn phòng y tế, cùng giáo dục và đào tạo các bác sĩ, y sĩ, dược sĩ và y tá để phục vụ khắp nơi.

3- Tổ chức những hội đoàn tương thân, tương ái và tương trợ để giao dịch, làm ăn trao đổi những kinh nghiệm về kinh tế thị trường.

4- Xây dựng thêm các trường học, đào tạo thêm các chuyên viên giáo dục, để trực tiếp giảng dạy về chữ nghĩa, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và chuyên nghiệp cho nhân dân, nhất là cho các giới trẻ, để hiểu biết và thực hành trong nếp sống cụ thể hằng ngày, truyền đạt cho họ biết yêu Chân lý, biết làm việc Thiện, và biết làm tốt đẹp cuộc đời, ngay trong thời gian hiện tại và trên khắp quê hương, đất nước mình, bằng đời sống văn minh và môi trường trong sạch.

IV. - NỘI DUNG GIÁO DỤC

1- Học và làm theo bản sắc văn hóa của dân tộc, kết hợp có chọn lọc với văn minh Tây phương;

2- Cải hóa tâm trạng con người thành đức hạnh và nhân cách của đức Phật.

- Vậy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam là gì?

Hỏi như vậy, có nghĩa là: chúng ta muốn trở về và tìm lại nguồn gốc nếp sống cao đẹp của tổ tông, và ông cha chúng ta đầu tiên dựng nước và giữ nước Văn Lang cách đây hơn 4000 năm lịch sử văn hiến. Mà nói tới lịch sử văn hiến, tức là đề cập tới quá trình nếp sống văn hóa của những người đầu tiên có công xây dựng thành đất nước Việt Nam này từ quá khứ và được chúng ta là những con cháu của bao nhiêu thế hệ tiếp theo kế thừa. Như vậy, rõ rằng là: chúng ta có Tổ quốc riêng, biên giới riêng, và dân tộc riêng; còn những tôn giáo, văn minh và những chủ nghĩa chính trị sau này du nhập tới, chỉ góp phần làm tốt đẹp thêm cho đất nước chúng ta mà thôi. Ở đây và hiện nay, có một điều đáng nói, đáng học, và đáng làm là: chúng ta, dân tộc Việt Nam, đừng vong bản, đừng phi dân tộc, đừng ngoại lai hóa quá đáng. Đành rằng, bất cứ điều gì hay, đẹp, thực tiễn từ đâu đến, và có thể mang lại sự lợi ích vật chất và tinh thần cho toàn dân, thì dĩ nhiên, tất cả người Việt Nam chúng ta đều mở rộng vòng tay đón nhận, và nhiệt liệt hoan nghinh, trong khi những cái gì đã lạc hậu, lỗi thời của chính chúng ta, thì đương nhiên chúng ta phải loại bỏ, để kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những văn hóa và truyền thống cao đẹp và cụ thể của Việt Nam với Tây phương. Bởi lẽ, Tổ quốc Rồng Tiên của chúng ta đã, đương, và sẽ mãi mãi làm mực thước sống cho toàn thể dân tộc ta. Có như vậy, chúng ta mới có đủ sức kế thừa, giữ gìn và phát triển đất nước trên tư thế Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc. Đó là:

- Tổ ông Lạc Long Quân, một biểu tượng giống Rồng sẵn có tinh thần yêu nước, anh hùng, và sáng tạo cụ thể nếp sống lâm nghiệp (chinh phục Hồ Tinh), nông nghiệp (diệt trừ Mộc Tinh), và ngư nghiệp (khai thác Ngư Tinh);

- Tổ bà Âu Cơ, một nòi giống Tiên nữ, có lòng Nhân ái cao đẹp và đoàn kết thân thương đối với trăm họ, toàn dân như cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em, bè bạn của một đại gia đình dân tộc khi găp phải nghèo đói, bệnh hoạn và lâm nguy.

Ấy là chưa kể tới các Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, các ông Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, và các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, và thời đại Hồ Chí Minh cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa kiêm kinh tế thị trường hiện tại.

- Còn cải hóa tâm trạng con người Việt Nam thành đức tính và nhân cách của đức Phật bằng cách nào?

Theo quan điểm Phật giáo, thì chúng ta có thể cải hóa toàn diện con người bằng hai cách:

1- Giáo dục bằng ba điều chủ yếu chung:

- Đức dục, thể dục và trí dục. Nói theo Phật giáo, thì phải dùng Giới học, Thiền học và Tuệ học hay từ bi, trí tuệ và dũng mãnh, để đối trị và tiêu diệt toàn bộ ba độc tố sẵn tiềm tàng trong tâm trạng con người, và hiện thực hóa bằng ba tội ác cho chính mình và mọi người trong môi trường sống chung của xã hội và đất nước. Đó là:

a- Tham dục, tham nhũng và ích kỷ.

b- Hận thù, gây oán thù, trả oán thù giữa người và người, như đấu tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua như những bầy dã thú.

c- Si mê, mù quáng, thất học, thiếu nếp sống công bằng, nhân ái, không biết tôn trọng lẽ phải, chỉ sống, làm việc và hưởng thụ trong một vực thẳm đen tối, không văn hóa, chẳng văn minh. Nghĩa là, măt người nhưng dạ thú.

Đáp lại và khắc phục ba độc tố trên, đức Phật khuyên chúng ta nên học tập ba môn học, để chuyển hóa ba ác tâm thành ba thiện tâm, và trở thành những người có đầy đủ nhân cách, để sống và làm việc cho bản thân và cho đất nước. Đó là :

- Phải chấp hành nghiêm túc những luật pháp của nhà nước, và giới luật của đạo Phật.

- Phải luyện tập thường xuyên cho thân thể được cường tráng, cho bạo động được dịu hiền.

- Phải tu học chính pháp để mở mang trí óc, và quét sạch những bụi đời ra khỏi thân tâm của nếp sống hằng ngày.

- Bên cạnh đó, chúng ta còn cần phải bồi dưỡng cho trái tim bằng đăc tính từ bi để thương mến nhau, giúp đỡ nhau, trong một cộng đồng hòa bình và xây dựng, không còn nghèo đói và chiến tranh.

Đồng thời, phải học tập ngay ở gia đình, trường học và xã hội, để não bộ có trí tuệ trong sáng và kinh nghiệm sống, rồi kết hợp hài hòa giữa sự hiểu biết và việc làm tích cực cho chính bản thân và cộng đồng dân tộc.

Sau đó, lại phải thực tập thể dục, dưỡng sinh vào những thì giờ nhất định hằng ngày, để có một cơ thể khỏe mạnh, ý chí anh hùng, để làm việc phục vụ cho chính mình và xã hội. Nghĩa là, ai nấy đều lành mạnh, không tật bệnh bi quan, để vui sống vui làm, vui hưởng thụ.

2- Giáo dục bằng chuyển vọng tâm thành Phật tâm.

Đây là thuộc về vấn đề tâm lý giáo dục. Nói đến tâm lý tức là nói về nhân tính, và tạng thức là măt trái của Như lai tạng, cũng giống như những lớp sóng vọng động nổi lên măt biển thanh tịnh Như lai tạng. Những lớp sóng tạng thức ấy được tạm chia thành ba loại, hay ba đăc tính. Trước hết là tính vô ký, không thiện, không ác; rồi tiếp đến tính Thiện; và tính Ác, tùy theo sự xúc tiếp giữa con người và môi trường sống. Về Đông phương, Mạnh Tử, cho nhân tính là Bản thiện; Tuân Tử cho là Bản ác; còn Cáo Tử thì cho là Trung lập. Về Tây Phương, chúng ta thấy:

“Theo như đạo đức ngày xưa, bản chất con người là Ác (như Thiên Chúa giáo, La Rochefoucault, và chủ thuyết Bi quan hiện đại); hay bản chất con người là Thiện (như Jean-Jacques Rousseau). Né tránh sự những sự nhận xét quá khích này và đi sát với thực tế, Karl Marx cho rằng, con người chẳng Thiện cũng không Ác...” ([8])

Theo Phân tâm học, thì Sigmund Freud, qua sự khám nghiệm những bệnh tâm thần, cho rằng: Trong vô thức sẵn có dục tính (Libido) bị dồn nén và lãng quên. Đó là nguyên nhân chính tạo ra những bệnh trạng kia, nếu chúng ta đọc qua sách “Giảng nghĩa những giấc mơ” (L'Interpétation des reves), thì càng rõ hơn. Nhất là, bệnh tâm thần ấy còn có liên hệ mật thiết với “Măc cảm Oedipe và Măc cảm Electre” (Le Complexe d'Oedipe et le Complexe d'Electre). Một măt, nam tính giết bố, lấy mẹ; măt khác, nữ tính xúi anh giết mẹ và tình nhân của mẹ để báo thù cho bố. Nghĩa là, trong đáy tầng Vô thức, thì nam tính bao giờ cũng thương mẹ hơn bố; trái lại, nữ tính thường yêu quý bố hơn mẹ. Phật giáo cũng dạy như vậy, nghĩa là đã vượt trước Phân Tâm Học của Tây phương, ít nhất là 1.500 năm. Tuy nhiên, cũng trong thế kỷ 20 này, Carl Gustav Jung, bác sĩ phân tâm lý này đã phi dục tính hóa (désexualiser la Libido) thành một sinh lực ở trong vô thức (L'Inconscient conllècti) mà Phật giáo gọi là tạng thức (Alaya Vijnana). Ở đây, có một điều quan trọng nhất là:

- Chúng ta phải chuyển hóa tạng thức thành Như Lai tạng (Tathagata-Garbha), chuyển con người mê lầm, thành đức Phật giác ngộ và giải thoát. Nghĩa là, chúng ta phá trừ chấp ngã và chấp pháp, không còn mê chấp giữa thế giới chủ quan và thế giới khách quan, mà phải là bình đẳng, bất nhị; đồng thời cải tạo tất cả ba đăc tính, chủng tử và tập khí: Vô ký, Thiện và Ác trở thành vô phân biệt và đều trong sáng, bình đẳng và tự do.

V.- MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC

Theo mục đích giáo dục Phật giáo, thì được chia thành hai loại. Nghĩa là, hiện đại hóa Việt Nam thành nước Cực lạc hiện thực:

1- Về cá nhân:

Khi con người đã tu học ba môn học nói trên, như Giới, Định, Tuệ; hay Bi, Trí, Dũng, thì mỗi người sẽ đạt tới đỉnh cao hạnh phúc, tự do, và tiến bộ - Giác ngộ, giải thoát và dũng tiến, hay Đức dục, Trí dục và Thể dục một cách cân đối nhất và tương xứng nhất. Theo mục đích của Khoa học Di truyền (La Génétique), thì mỗi người Việt Nam chúng ta có thể phục hồi, duy trì, và phát triển những đăc tính di truyền (Les gènes les caractères héréditaires) trong sắc tố của chất A.D.N. cấu thành từ Lạc Long Quân và Âu Cơ truyền tới Bố Mẹ cho chúng ta hiện nay. Đó là, những đăc tính di truyền: yêu nước, anh hùng và sáng tạo đời sống kinh tế, cũng như nhân ái và cao đẹp.

2- Về đời sống tập thể:

Mục đích giáo dục Phật giáo dành cho toàn thể dân tộc và đất nước được hướng về bốn điểm chủ yếu:

a) Đất nước hòa bình thường trực phải được thực hiện bằng an sinh xã hội, củng cố vững mạnh chế độ chính trị, xóa bỏ chính sách độc tài, tham nhũng, đăt quyền lợi của nhân dân và phồn vinh Tổ quốc lên trên hết, vì Tổ quốc và nhân dân bao giờ cũng có trước; còn tôn giáo và chủ nghĩa chính trị đều xuất phát từ lòng dân mà ra. Cho nên, tất cả mọi thành phần tôn giáo và chính trị đều phải có nghĩa vụ đoàn kết chúng, bảo vệ chung, để đời sống hòa bình của toàn dân được thường xuyên vững mạnh, và trường cửu.

b) Toàn dân có quyền sống an lạc, hạnh phúc, yên vui, ai nấy đều có cơm ăn, việc làm bằng chân tay hay trí óc; thân được khỏe mạnh, tâm được thoải mái tự do, trí óc được học hành và mở mang kiến thức.

c) Chủ quyền độc lập phải được bảo vệ và phát triển trên cơ sở dân chủ, bản ngã Việt Nam tự do, không định kiến một chiều, không khuynh tả, hay khuynh hữu, hợp lòng dân, kết hợp hài hòa giữa bản sắc Văn hóa Việt Nam với xu thế chính trị chung của thế giới hiện đại, để cùng tiến bộ ngang vai, sát cánh, nhịp bước chung trên đà hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước.

đ) Môi trường sống từ thành phố tới thôn quê đều phải gìn giữ thanh tịnh, hợp vệ sinh. Hơn nữa, rừng cây, đê điều hàng năm, hàng tháng, hàng ngày cần phải được duy trì và bảo vệ đúng mức, để tránh những thiên tai, lũ lụt và các thứ bệnh dịch truyền nhiễm, lan tràn, hầu mong toàn dân được sống trong cảnh xanh đẹp, văn minh, giàu mạnh, sạch sẽ và tiến bộ.

HT THÍCH ĐỨC NGHIỆP



[1] Henry Clarke Warren, Buddhism in translations, pp. 123-128, Harvard University Press, 1963.

[2] René de Berval, Présence du Bouddhisme, page 245

[3] Théodore de Bary, Sources of Indian Tradition, Digha Nikaya Columbia University Press, pp. 128-134.

[4] René de Berval, Présence du Bouddhisme, Mahavagga I, 11, page 588.

[5] Max Weber, The sociology of Religion, pp. 185-186, 1963.

[6] Junjiro Takakusu, The Essentials of Buddhist Philosophy, Hawai University, 1947.

[7] Théodore de Bary, Sources of Indian Tradition, Columbia University Press ,page 98.

[8] Henri Lefèbre, Pour Conaitre La Penée de Karl Marx, page 38, Bordas 1947

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552606
    Đang online :27
    Bảng quảng cáo