KHUÔNG VIỆT ĐẠI SƯ VÀ PHẬT GIÁO Ở CHÂU THỔ SÔNG MÃ

altChâu thổ sông Mã, xứ Thanh không phải một trung tâm Phật giáo nhưng là nơi Phật giáo sớm phát triển và có nhiều vị pháp sư danh tiếng

- trong đó Ngô Chân Lưu là một trong những quốc sư được lưu danh cùng lịch sử Phật giáo Việt Nam và khu vực.

     Một thiên kỷ đã qua. Ấy thế nhưng đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề về cuộc đời, quê hương, hành trạng… rồi những đóng góp của Khuông Việt đại sư đối với Phật giáo và đất nước trải các vương triều: Đinh - tiền Lê - Lý nằm trong bí ẩn, bị che phủ bởi hương khói cửa thiền,cát bụi nghìn năm. Từ vùng đất quê hương của vị Quốc sư Khuông Việt, xin góp thêm vài tư liệu vào vấn đề hội thảo đang quan tâm.

1.Vùng đất hương Cát Ly, huyện Thường Lạc, quận Cửu Chân.

Các nguồn tài/sử liệu như: Thiền uyển tập anh (Anh tú vườn thiền), Đại Việt sử ký toàn thư hay Thơ văn Lý - Trần (tập I) đều khẳng định: Ngô Chân Lưu là người sinh ra ở đất Thường Lạc, quận Cửu Chân; nhưng cái “nguyên quán” của vị chân tu này đến nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa đồng nhất, những mong xác định được một không gian cụ thể hơn. Chuyện qua nghìn năm biến thiên dâu bể, các địa danh làng, xã ở ta thường ít nhiều có sự “xê dịch”, “biến đổi” giữa thư tịch và thực tế là một sự thật. Hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, hay thậm chí vùng đất Cửu Chân xưa cũng không là ngoại lệ.

Vùng đất Cửu Chân vốn là một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Bộ Cửu Chân lúc bấy giờ, bao gồm châu thổ sông Mã và một phần châu thổ sông Lam - trong đó, đôi bờ hạ lưu sông Mã với hơn 100 di tích thuộc văn hóa Đông Sơn được xem là vùng đất “trung tâm” của bộ Cửu Chân.

Thời Hán, Cửu Chân gọi là quận, quận trị đóng ở Tư Phố. Thời nhà Lương đổi quận Cửu Chân là Ái Châu. Quận Cửu Chân gồm các huyện: Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết và Vô Biên. Nhà Tùy, nhà Đường bỏ dơn vị châu, lại đặt quận Cửu Chân. Nhà Đường đặt “Ái châu Cửu Chân quận”, quận trị đóng ở Đông Pho, về sau lại đổi là Ái châu vào năm Càn Nguyên thứ 1(758). Cho đến khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long, quận trị Ái châu vẫn đóng tại Đông Pho (huyện Đông Sơn ngày nay).

Địa danh Thường Lạc sớm nhất có từ thời Tấn. Theo Đào Duy Anh (cụ Đào dẫn theo Tấn thư), năm Nguyên Hưng thứ 1, Đào Hoàng xin tách đất Cửu Chân mà đặt huyện Cửu Đức. Huyện Cửu Đức tương đương phần đất Nghệ An ngày nay. Thời bấy giờ, vùng đất thuộc Cửu Chân gồm có các huyện: Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc và huyện Tùng Nguyên.

Huyện Thường Lạc ở vùng đất đông - nam Cửu Chân, tương đương với huyện Tĩnh Gia ngày nay.

Từ năm Vũ Đức thứ 5 (622), vùng đất Ái châu Cửu Chân gồm có 4 huyện: Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn và An Thuận cùng 7 huyện (châu) khác là: Tích Châu, Thuận Châu, Vĩnh Châu, Tư Châu, Tiền Châu, Chân Châu và Sơn châu. Vùng đất thuộc huyện Thường Lạc được đổi là huyện An Thuận (địa danh Thường Lạc không còn). Thời Đinh - Tiền Lê, Thanh Hóa vẫn là Ái châu. Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo, không rõ “danh tính” các đạo nhưng những địa danh như: Hoan châu, Ái châu… còn tồn tại về sau nên có lẽ, tên các huyện vẫn như cũ. Đến mùa xuân Tân Mão 1011 - cách đây vừa đúng 900 năm - địa danh Thanh Hóa lộ xuất hiện lần đầu.

Căn cứ vào tài liệu/thư tịch cũ, có thể thấy: ở thời đại Ngô Chân Lưu, địa danh huyện Thường Lạc không còn - đã thay thế bằng tên gọi An Thuận, địa danh Ái châu được dùng thay cho Cửu Chân… nhưng các tên đất Thường Lạc, Cửu Chân vẫn được các nhà nghiên cứu sử dụng khi viết về quê hương Ngô Chân Lưu.

Danh sư Ngô Chân Lưu sinh ra khi địa danh huyện Thường Lạc chỉ còn là quá khứ và vị Tăng thống họ Ngô viên tịch khi địa danh lộ Thanh Hóa đã thịnh hành. Nên chăng, cần gọi lại cho đúng là: Ngô Chân Lưu sinh ra và lớn lên ở đất An Thuận, châu Ái - Thanh Hóa lộ (huyện Thường Lạc, Ái châu cũ)?

Huyện An Thuận, theo các nguồn tài liệu, thư tịch cũ và tài liệu điều tra điền dã của chúng tôi, là vùng đất phía đông - nam lộ Thanh Hóa, tức huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa và bao gồm cả 7 xã: Tượng Sơn, Trường Sơn, Trường Sơn, Trường Trung, Trường Minh của huyện Nông Cống ngày nay. Tuy nhiên, cái “căn cước” đích thực về nơi chôn nhau cắt rốn của Ngô Chân Lưu đến nay vẫn khó xác định cụ thể một cách chính xác thuộc làng (xã), thôn (xóm) nào.

Sách Thiền uyển tập anh cho biết: Ngô Chân Lưu người hương Cát Ly, huyện Thường Lạc, về già dựng chùa ở núi Du Hý quận nhà rồi tu ở đấy (có tài liệu nói ông mở trường ở quê nhà).

Trong công trình nghiên cứu về tên làng xã ở Thanh Hóa của Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1) và khảo sát thực địa của chúng tôi: huyện Tĩnh Gia (huyện Thường Lạc cũ) không có hương Cát Ly hoặc kẻ/ cổ/ làng xã nào có tên gọi này cũng như không có núi Du Hý - duy nhất chỉ có làng Cát Lễ tổng Vân Trường thuộc xã Tượng Sơn.

Làng Cát Lễ thuộc tổng Vân Trường huyện Tĩnh Gia. Vân Trường là một tổng rộng lớn gồm 10 làng: Thái Tượng, Bồng Sơn, Cát Lễ, Thị Long, Vân Trang, Thanh Hội, Đức Nhuận, Phú Triều, Phúc Thịnh (Trúc Khoa) và Kén Thôn.

Cát Lễ là một làng cổ, cận kề núi Nưa. Vùng đất này từ thời nước Văn Lang hình thành đã được khai phá và có vị thế trong bộ Cửu Chân. Đến thế kỷ III, nơi đây là một trong những căn cứ của Bà Triệu. Trong danh sơn xứ Thanh, núi Nưa sừng sững ở vị trí rìa phía tây châu thổ sông Mã. Trong đời sống văn hóa - tâm linh của người xứ Thanh xưa, ngàn Nưa là núi thiêng, nơi ngự trị muôn đời của thần linh; các vị ẩn sỹ cũng tìm đến đây vui thú cùng mây núi, cỏ cây.

Trên núi Nưa hiện nay chưa phát hiện được các ngôi chùa có niên đại sớm thời Lý trở về trước. Tuy nhiên, chuyện các bậc cao tăng tìm về nơi linh sơn dựng am cỏ tu luyện là phổ biến. Truyền thuyết về thiên tình sử Từ Thức và Giáng Hương cũng nói đến việc chàng Từ Thức sau buổi giã biệt duyên tiên đã tìm đến núi Nưa. Trong vùng, còn huyền thoại về người ẩn sỹ núi Nưa thà chết chứ không hạ sơn về với triều Hồ Quý Ly đến nay vẫn được truyền tụng (2). Phải chăng làng Cát Lễ dưới chân núi Nưa là hương Cát Ly xưa ?

Trên đất An Thuận có một ngọn núi, có tên là Du Xuyên rất đáng lưu ý.

Núi Du Xuyên nằm trên cửa biển Lạch Bạng, thuộc xã Hải Thanh, huyện An Thuận xưa. Đây là nơi sông, núi, biển hội tụ thành một danh thắng. Trên núi Du Xuyên trang nghiêm tòa cổ tự; ở cửa Lạch Bạng có đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt. Cận kề với cửa Lạch Bạng là làng Yên Hòa, xã Hải Thượng, nơi dòng họ Nguyễn (Nguyễn Thế Quế) và họ Lê đã có công trong việc xây dựng kinh đô Hoa Lư dưới thời tiền Lê, được nhân dân tôn thờ (3). Vùng đất Du Xuyên với chùa cổ, sông, núi, biển hữu tình cũng là nơi tốt cho các vị pháp sư tu luyện. Chúng tôi ghi chú thêm tư liệu này để chờ tra cứu thêm tư liệu.

Trong cuốn Danh nhân Thanh Hóa, tác giả bài viết về Khuông Việt đại sư (933 - 911) cho rằng “Có thể về già Ngô Chân Lưu trở về quê gốc, dựng nên chùa Thông để tu hành” (4) (Chùa Thông còn gọi là chùa Du Anh ở xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc). Theo chúng tôi, vùng đất Vĩnh Lộc ở tây - bắc xứ Thanh, không nằm trong địa phận huyện An Thuận; hơn nữa, chùa Du Anh có niên đại sớm nhất là thời Trần nên không một vị Tăng thống nào lại có thể “luân hồi” tu luyện ở một ngôi chùa được dựng sau khi đã siêu thoát 4 thế kỷ.

Về dòng dõi của Ngô Chân Lưu, đến nay vẫn còn có ý kiến khác nhau cần xem xét lại.

Sách Thiền uyển tập anh cho rằng ông thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Có tài liệu cho rằng ông là cháu của Ngô Quyền. Người con rể họ Dương xứ Thanh này lên ngôi vương khi cháu đích tôn Ngô Chân Lưu mới 5 tuổi. Nếu Ngô Chân Lưu là cháu vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền thì quê gốc phải là đất Đường Lâm (Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội) mới hợp lẽ (?).

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Ngô Chân Lưu là con cả Ngô Xương Ngập, ra đời dưới thời cai trị của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ (933). Ý kiến này hoàn toàn mâu thuẫn với năm sinh Ngô Chân Lưu vì hai bố con không thể bằng tuổi nhau được.

Khuông Việt đại sư và Phật giáo châu thổ sông Mã

Ngô Chân Lưu trở thành Tăng thống đứng đầu Phật giáo cả nước, được ban hiệu Khuông Việt đại sư năm 48 tuổi là một hiện tượng đặc biệt nhưng không đến nỗi “khó hiểu”. Sử sách cũng cho biết Ngô Chân Lưu và các vị danh sư nổi tiếng đương thời có mối liên hệ với môi trường, sự phát triển của “văn hóa Phật giáo” ở vùng châu thổ sông Mã.

Cần phải nói thêm là ngày từ thế kỷ II, trên mảnh đất châu thổ sông Mã đã tọa lạc một số ngôi chùa, danh sư Pháp Hiền từng đến thuyết pháp.

Sự hình thành hệ thống Phật tự cùng với niên đại của các chùa tháp nơi đây cho thấy: Phật giáo đã từng bước xâm nhập vào châu thổ sông Mã. Bắt đầu từ cửa sông, ven biển… Phật giáo “lan tỏa” vào châu thổ và từng bước “đặt chân” lên vùng trung du, thung lũng chân núi.

Đôi bờ sông Mã và các chi lưu của nó là nơi tọa lạc của nhiều tòa cổ tự và gắn liền với tên tuổi những Pháp sư lừng tiếng như: Đại Thừa Đăng, Trí Hạnh...

Cuối thế kỷ X - đầu thế kỷ XI, giai đoạn giác ngộ, hành đạo và đắc đạo của Khuông Việt đại sư họ Ngô là thời kỳ Phật giáo ở đất Cửu Chân phát triển mạnh, có tác động lớn đế kinh đô Hoa Lư cũng như vương triều Đinh, rồi triều Tiền Lê.

Ngô Chân Lưu đến với cửa thiền, trở thành Tăng thống trong thời kỳ xã hội có nhiều biến động, trải các vương triều: Đinh - Tiền Lê và buổi đầu thời Lý.

Nếu sự phát triển của Phật giáo đầu thế kỷ X ở châu thổ sông Mã đã tạo điều kiện cho Ngô Chân Lưu sớm quy y cửa Phật thì phải chăng, cuộc tao loạn, binh đao của của đất nước trong thời 12 sứ quân - lúc Phật giáo đang khẳng định vị thế - đã thúc đẩy nhà chân tu trẻ tuổi, tinh thông Phật pháp này tìm đến các thiền phái, trở thành môn sinh xuất sắc của danh sư Vân Phong và là đại diện xuất sắc thế hệ thứ tư của dòng thiền Quang Bích.

Sau khi Ngô Chân Lưu trở thành Tăng thống, tham dự triều chính với tư cách Quốc sư, Phật giáo vùng châu thổ sông Mã có sự phát triển nổi trội. Miền đồng bằng ven phía bắc xứ Thanh - thuộc các huyện Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Nga Sơn ngày nay có nhiều ngôi chùa lớn được tạo dựng. Tiêu biểu như Sùng Nghiêm Diên Thánh cổ tự ở Hậu Lộc.

Ngoài ra, còn phải kể đến chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni (huyện Thiệu Hóa), một trong ba ngôi chùa lớn (Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm) do Kim tử quang lộc đại phu, Đô quốc dịch sứ quận Cửu Chân, người tôn sùng tượng giáo tạo dựng. Đây là một ngôi chùa có quy mô lớn, ở vị trí đắc địa,đã được các vị hoàng đế ba triều vua Đinh - Tiền Lê và Lý quan tâm. Vua Lê Đại Hành tuần du đến giang Ngũ Huyện đã qua chùa và cho xây đắp tu bổ lại. Tiếp đến, vua Thái Tông nhà Lý đi tuần du phương Nam tới Ái châu ghé thăm cảnh chùa và cho trùng tu, chọn người làm thiền chủ, cho thêm kẻ trông nom, hương khói. Thiền sư Đạo Dung và Tổng trấn Lý Thường Kiệt cũng từng chỉ đạo việc trùng tu, tôn tạo lại chùa.

Sự phát triển của Phật giáo ở khu vực sông Mã, cận kề với kinh đô Hoa Lư đã biến vùng đất này thành nơi hội tụ của Phật tử. Các vị pháp sư, phật tử ở nhiều nước trong khu vực đã đến đây thỉnh Phật. Cùng với trung tâm Phật giáo Luy Lâu vùng Kinh Bắc, “văn hóa Phật giáo” vùng sông Mã đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của Phật giáo dưới các vương triều từ Đinh đến Tiền Lê, Lý. Và với tư cách Tăng thống - đứng đầu Phật giáo quốc gia - Khuông Việt đại sư có phần đóng góp quan trọng vào việc phát triển đạo pháp, chùa tháp, khẳng định vị thế cuả Phật giáo đối với nhà nước quân chủ, đời sống xã hội… bắc một nhịp cầu thật ý nghĩa để Phật giáo đồng hành cùng dân tộc.

Chắc chắn, sinh thời vị Tăng thống họ Ngô đã đến thuyết pháp ở những ngôi chùa trên vùng đất Cửu Chân - Ái châu - lộ Thanh Hóa. Môi trường “văn hóa Phật giáo” này có thể là cơ/nhân duyên để Khuông Việt đại sư về già trở lại cố hương, tìm đến núi Du Hý dựng chùa tu luyện? Tiếc là cho đến hôm nay, nguồn tư liệu qua nghìn năm lịch sử được ghi chép không nhiều, lại trong tình trạng tam sao thất bản nên nhiều vấn đề có liên quan đến ông vẫn chỉ là giả thuyết, cần được nghiên cứu, tìm hiểu thêm.

Trên đây là một số vấn đề có liên quan đến Khuông Việt đại sư và Phật giáo vùng châu thổ sông Mã qua một vài tư liệu, suy nghĩ và tìm tòi mới. Rất mong được sự quan tâm và trao đổi của hội thảo./.

TS. Phạm Văn Đấu

Đại học Hồng Đức

Chú thích:    

(1), (3): Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa, Tên làng xã Thanh Hóa. Nxb Thanh Hóa, 2000, tr 190 - 195.

(2): Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (tập 2), nxb Thuận Hóa 1992, tr 264.

(4): Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa, Danh nhân Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa, 2005, tr 86.

(5): Ủy ban KHXH Việt Nam - Viện Văn học, Thơ văn Lý- Trần (tập 1), nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr 425 - 426.

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552607
    Đang online :26
    Bảng quảng cáo