QUỐC SƯ KHUÔNG VIỆT VỚI NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM ĐẦU KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP

altSau chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938, Việt Nam đã chặt được cái "xích" trước kia vẫn "xiềng" mình thành một châu, một quận của đại đế quốc Trung Quốc.

Từ đây các triều đại Ngô, Đinh, Lê (Tiền Lê)… một mặt ra sức củng cố nền độc lập dân tộc, mặt khác bắt tay vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Để làm được điều đó, trong suốt buổi đầu độc lập, những người đứng đầu nhà nước Việt Nam ta đặc biệt coi trọng mối quan hệ với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc ngay sát bên cạnh để làm sao vẫn bảo vệ được độc lập của mình trước nguy cơ xâm lược thường trực của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mặt khác vẫn giữ được mối quan hệ ngoại giao hòa hiếu với họ với tư cách là một nước độc lập. Trong bối cảnh khi mà các triều đại phong kiến nước ta ngày xưa chưa có cơ quan chuyên trách về ngoại giao như bây giờ thì các hoạt động bang giao của triều đình đều dựa vào những vị quan tài giỏi, những nhà văn hóa tinh thông địa lý, lịch sử, văn học, có tài năng mẫn tiệp, ứng đối nhanh trí, thông minh. Trong buổi đầu độc lập, họ trước hết là các tri thức Phật giáo – những trí thức đầu tiên của dân tộc, đóng vai trò quan trọng đối với nền chính trị quốc gia. Tăng thống Ngô Chân Lưu hiệu Khuông Việt Đại sư là một trong số những trí thức yêu nước tiêu biểu ấy. Ông không chỉ được biết đến như một nhà thiền sư tinh thông địa lý, lịch sử, văn hóa mà còn được biết đến như một nhà chính trị, ngoại giao tài đức, trí dũng song toàn. Điều gì đã hun đúc nên phong cách ngoại giao mẫn tiệp ở đại sư Khuông Việt? Trong bối cảnh lịch sử dân tộc buổi đầu kỷ nguyên độc lập, ông đã có đóng góp gì đối với nền ngoại giao nước nhà? Đó sẽ là những vấn đề trọng tâm mà chúng tôi tập trung nghiên cứu và muốn làm sáng rõ.

1. Bối cảnh lịch sử tác động đến đường lối, phong cách ngoại giao của Không Việt đại sư

Đại sư Khuông Việt tên thật là Ngô Chân Lưu, người hương Cát Lị[1], huyện Thường Lạc, là dòng dõi Ngô Thuấn Đế[2]. Từ thửa nhỏ, ông đã có dáng mạo khôi ngô, khí phách hiên ngang khác thường. Điều đặc biệt là ngày nhỏ ông vốn theo Nho học, lớn lên lại theo đạo Phật, được thiền sư Vân Phong chùa Khai Quốc thu nhận làm đệ tử. Bởi vậy mà ông không chỉ am hiểu Nho học, tinh thông chữ Hán mà còn được hiểu rộng kinh điển Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học. Chính điều này sẽ góp phần làm nên một sự kết hợp rất đặc biệt giữa sự thâm thúy của một nhà nho trác việt và sự ung dung, tĩnh tại của một nhà sư trong phong cách Khuông Việt đại sư.

Theo Thiền Uyển Tập Anh, ông sinh năm 933 và mất năm 1011[3]. Căn cứ theo đó, Khuông Việt đại sư sinh ra ngay trước những năm đất nước ta thoát khỏi hơn 1000 năm Bắc thuộc, được chứng kiến đất nước độc lập, tự chủ dưới sự lãnh đạo của các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê và mất khi vương triều tiếp theo – vương triều Lý thành lập mới được 2 năm[4]. Trong khoảng thời gian sống gần 80 năm ấy, lịch sử dân tộc trong buổi đầu độc lập với biết bao khó khăn, thử thách đã hun đúc trong ông đường hướng, phong cách ngoại giao của riêng mình.

Thực tế rằng: suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, nước ta trở thành một thuộc quốc, không còn quan hệ ngoại giao với phong kiến phương Bắc nữa. Cuộc chiến đấu của nước ta khi đó chống lại sự chiếm đóng của Trung Quốc, khôi phục chủ quyền, giải phóng đất đai cũng chính là sự khôi phục mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Phải đến sau chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, lịch sử nước ta mới sang một trang mới: thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm hoàn toàn chấm dứt, đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập dài lâu. Cũng từ đây, mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc mới chính thức được mở ra.

Lúc này, sau khi giành độc lập, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê,…bắt tay ngay vào công cuộc khôi phục, củng cố nền độc lập, đồng thời ra sức xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh mới ấy, nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, tránh chiến tranh, xung đột giữa hai nước, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định để củng cố độc lập, xây dựng đất nước là vô cùng cần thiết mà bất cứ triều đại nào cũng dày công xây đắp. Trong khi đó, về phía Trung Quốc, để duy trì địa vị thống trị của mình, để trấn áp sự đối kháng liên hồi từ phía nhân dân trong nước và sự chống đối của các nước Kim, Liêu, Hạ ở phía Bắc, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã liên tiếp dùng vũ lực để trấn áp các dân tộc xung quoanh, trong đó có Việt Nam ta. Vì thế ngay trong buổi đầu độc lập, chúng ta thấy quan hệ 2 nước nhiều lúc bị gián đoạn. Nhưng Việt Nam ta, với sức mạnh chính trị và vũ trang của mình, cộng với hoàn cảnh khách quan do sự suy yếu bên trong của kẻ thù đã bao lần bẻ gãy được “răng con cá lớn” Trung Quốc và đuổi nó đi. Khi nó đi rồi thì chúng ta lại cư xử mềm mỏng, mềm mỏng nhưng ngoan cường, không yếu hèn để buộc các triều đại phong kiến Trung Quốc phải tôn trọng mình.

Thực hiện đường lối, nguyên tắc ngoại giao ấy là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn đè nặng lên vai các triều đại phong kiến nước ta trong vai trò là người đứng đầu một nước nhỏ luôn phải đối phó với âm mưu bành trướng của nước lớn muốn thôn tính, sát nhập nước ta thành quận huyện của chúng. Thực tế cho thấy, trong quan hệ bang giao ngày xưa, ngoài những việc về lễ nghi như triều cống theo lệ, xin phong vương, báo tang, chúc mừng Thiên tử lên ngội, các nhà ngoại giao thời phong kiến chủ yếu có nhiệm vụ điều đình về việc các biên thần của Thiên triều lấn chiếm đất đai vùng biên giới nước ta, hạch sách nước ta đủ điều hoặc giải quyết hậu quả của chiến tranh giữa hai nước, những việc lớn liên quan đến an nguy của đất nước… Trong bối cảnh buổi đầu độc lập, ai sẽ là những người được triều đình phong kiến giao phó đảm đương sự nghiệp ngoại giao đầy thử thách ấy. Trong khi chưa có các cơ quan ngoại giao chuyên trách như bây giờ, các triều Ngô – Đinh – Tiền Lê cũng như các triều đại phong kiến về sau đều phải dựa vào những trí thức trong và ngoài triều – những người có trình độ văn hóa cao để làm sao đại diện cho một quốc gia có văn hiến như nước ta mà giao thiệp với Thiên triều Trung Hoa – một đại đế quốc phong kiến ở ngay sát cạnh mình. Liệu những trí thức yêu nước có văn hóa ấy là ai khi mà trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc trước đó, người Hán luôn chủ trương hạn chế tối đa đào tạo trí thức người Việt? Chính trong hoàn cảnh ấy, Phật giáo ở nước ta với tư cách là quốc giáo đã phát huy mạnh mẽ vai trò của nó trong việc tạo ra một tầng lớp trí thức Việt đầu tiên – những trí thức Phật giáo cực kỳ tinh thông địa lý, lịch sư, văn hóa và rất am hiểu Nho học. Chính sự nô dịch hà khắc của chính quyền đô hộ trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc trước đó và chính nhu cầu bức thiết phải khẳng định tính tự chủ của quốc gia mình sau khi giành độc lập đã gián tiếp hun đúc ở các thiền sư Việt Nam một ý thức dân tộc mạnh mẽ. Thêm vào đó, tinh thần nhập thế tích cực, lấy con người làm đối tượng để phụng sự nhân sinh vốn có của Phật giáo càng thôi thúc họ phải nhập thế để hành động, giúp nước, giúp dân. Từ đây, họ không chỉ cống hiến tài năng của mình xây đắp nền văn hóa dân tộc mà còn luôn sát cánh cùng đất nước trong mọi hoạt động đối nội cũng như đối ngoại. Nếu như dưới thời Lý – Trần, chúng ta phải kể đến đóng góp của nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viễn Thông, Đạo Hạnh, Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa, Huyền Quang trong các hoạt động chính tri – xã hội – văn hóa của đất nước thì trong buổi đầu độc lập ở thế kỷ X, đặc biệt dưới triều Đinh – Tiền Lê, chúng ta phải kể đến vị thiền sư Ngô Chân Lưu, người đã có công rất lớn trong mọi hoạt động đối nội, đối ngoại của dân tộc, người đã thành công trong việc tiếp nối truyền thống ngoại giao của ông cha và nâng nó lên ở một tầm cao mới trong bối cảnh lịch sử mới đầy thử thách.

 2. Đóng góp của Khuông Việt đại sư cho nền ngoại giao Việt Nam trong buổi đầu độc lập

Trong buổi đầu độc lập, khi mà Phật giáo được coi là quốc giáo, khi mà các nhà sư có học vấn đều được các vị vua nước ta trọng dụng thì Ngô Chân Lưu xuất hiện và bằng tài năng, sự thông tuệ khác thường của mình đã chinh phục trái tim, khối óc của những vị vua đứng đầu đất nước. Năm 40 tuổi, tài năng mẫn tiệp của Ngô Chân Lưu đã vang dội đến triều đình. Lúc bấy giờ, vua Đinh Tiên Hoàng liền vời ông vào hỏi đạo. Khâm phục trước tài ứng đối rành mạch, giảng luận tinh tường, nhà vua liền phong cho ông giữ chức Tăng Thống. Hai năm sau đấy (971), vua Đinh tiếp tục ban phong cho Ngô Chân Lưu tước Khuông Việt[5] đại sư, giữ lại tu hành ở kinh đô để tiện hỏi han, bàn bạc việc nước. Từ đây, ông không chỉ chăm lo việc tu hành, giảng đạo mà còn nhập thế, coi việc nước, việc dân cũng chính là việc đạo. Cũng chính từ đó, nhân cách của một nhà ngoại giao trí dũng song toàn trong ông có dịp bộc lộ rõ nét.

Đối với Khuông Việt đại sư, muốn khẳng định được tính độc lập, thế mạnh của đất nước mình trong quan hệ bang giao với nước ngoài thì trước hết thế nước phải ổn định và phải khẳng định được sức sống riêng, giá trị văn hóa riêng của dân tộc với thế giới bên ngoài. Muốn cho thế nước ổn định, hơn ai hết ông hiểu rằng phải thu phục lòng dân. Chính vì nhận thức như vậy nên qua các đời vua Đinh – Tiền Lê, quốc sư Khuông Việt luôn trăn trở làm sao giúp vua vạch ra đường lối trị nước cốt nhằm ổn định nhân tâm. Chắc hẳn người đời không thể nào quên được những lời căn dặn chí tình của ông đối với vua Đinh rằng: “Hoàng thượng nay đã làm vua nên vâng theo lời Phật tổ dạy: thứ nhất phải như mặt trời soi sáng khắp thế gian; thứ hai phải như mặt đất nuôi dưỡng muôn loài; thứ ba phải như cái cầu không quản khó nhọc đem lưng ra tế độ mọi người; thứ tư phải như cái cân không vì họ hàng thân thích mà nghiêng lệch, không vì kẻ yêu, người ghét mà nặng, nhẹ; thứ năm phải như người mẹ hiền, ruột thắt gan mòn nuôi nấng con dân …”[2; tr.89] Những lời nói ấy là những lời tâm huyết của một bậc thiền sư vì nước, vì dân. Nó khắc sâu vào tâm trí của các vị vua nước ta thời bấy giờ và được hiện thực hóa bằng những đường lối, chính sách cai trị cụ thể. Rồi cũng chính vì muốn giữ vững thế nước trước nguy cơ xâm lược đang đến gần của phong kiến phương Bắc mà dù được vua Đinh quý trọng, ban phong nhiều ân huệ nhưng ông vẫn gác tình riêng để ủng hộ Lê Hoàn – người tài đức vẹn toàn lên làm vua thay thế vua Đinh khi cha con vua Đinh ngày càng đi vào con đường hưởng lạc.

Lúc này, sau khi dùng biện pháp đe dọa ngoại giao[6] bằng tối hậu thư không thành, tháng 4 năm 981, quân Tống theo 3 đường tiến vào xâm lược nước ta. Nhưng trên cả 3 đường hành quân, giặc đều bị quân ta, dưới sự lãnh đạo tài tình của Lê Hoàn đánh cho bại trận. Và đúng như dự đoán của Khuông Việt đại sư, sau thất bại thảm hại này, quân Tống buộc phải thông hiếu với triều Lê. Thực tế trong thời gian từ năm 982 đến 985, sứ thần hai nước, ta và Tống thường qua lại với nhau. Đặc biệt, đến cuối năm 986, vua Tống cho 2 quan văn là Lý Nhược Chuyết và Lý Giác sang ta để nhận tù binh và mang sắc vua Tống phong Lê Hoàn chức “Tiết độ sứ”[7]. Rõ ràng là hơn ai hết, Khuông Việt đại sư hiểu rằng, nhà Tống cũng như các triều đại phong kiến phương Bắc khác, chỉ công nhận quan hệ bang giao với nước ta khi không thể nào phủ nhận được sự thất bại của chúng về mặt quân sự. Và ông cũng hiểu rằng, để khẳng định được tính độc lập, tự chủ, sự ngang hàng của mình trong quan hệ ngoại giao với một đế quốc phong kiến khổng lồ như Trung Hoa, trước hết chúng ta phải tỏ rõ và khẳng định cho họ thấy dân tộc ta là một dân tộc có văn hiến lâu đời với những con người có học thức, đầy tài năng, không thua kém gì đất nước và con người Trung Hoa. Có như thế Thiên triều Trung Hoa mới từ bỏ thái độ hống hách, coi thường nước ta như là một nước Man Di. Bởi vậy, năm Đinh Hợi (987), khi được tin nhà Tống cử sứ giả sang ta, ngay lập tức Khuông Việt đại sư đã bày tỏ dứt khoát với vua Lê rằng: “Hai lần trước sứ Tống sang thấy triều quan thưa thớt, trong bụng họ không khỏi khinh thường nước Việt thiếu văn tài. Vậy, lần này phải tỏ cho họ biết trong nước mình không hiếm người có học thức và người nước mình khác người nước họ ở chỗ không phải ai cũng học chỉ để ra làm quan”[2; tr.98]. Rồi sau đó chính ông đã tiến cử sư Đỗ Thuận làm giang lệnh[8] chở đò đón sứ giả phương Bắc với lập luận rằng: “Thầy tăng họ Đỗ thông nho học, tính lại hay nói thơ, nói văn, có thể làm cho sứ Tống giật mình kinh sợ mà bỏ thói kiêu ngạo”[2; tr.98]. Và thực tiễn lịch sử đã minh chứng hùng hồn cho con mắt tinh tường, sự nhạy cảm tuyệt vời về ngoại giao của Khuông Việt đại sư.

Lúc này đây, sứ giả mà nhà Tống cử sang là Lý Giác – một Quốc tử giám bác sĩ[9] nổi tiếng học vấn uyên thâm, văn hay chữ tốt. Đoàn đón sứ của ta bố trí cho Lý Giác đi trên chiếc thuyền có nhà sư Đỗ Thuận mang danh chủ thuyền, cùng một vài quan lại của ta tham sự vào việc tiếp Lý Giác trên suốt dọc đường đi. Chuyện kể rằng: có một buổi Đỗ Thuận cầm chéo đưa thuyền đi, sứ Tống đứng ở mạn thuyền, ngắm cảnh trời mây, sông nước, nhìn thấy hai con ngỗng bơi lội dưới sông liền ngâm hai câu thơ:

“Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên gia”

(Dịch: Ngỗng ngỗng, hai một đôi

Vươn cổ ngước chân trời)

Lái đò Đỗ Thuận ngay lập tức ngâm tiếp rằng:

“Bạch mao phô lục thủy

Hồng trạo bãi thanh ba”

(Dịch: Nước xanh ngời lông trắng

Sóng biếc chèo hồng bơi)[3; tr.180-181]

Bốn câu thơ hợp lại thành một bài thơ hay. Sứ thần Lý giác phải tỏ rõ sự khâm phục và rất đỗi ngạc nhiên của mình. Khâm phục không bởi sự thông minh, uyên bác của Đỗ Thuận vì Lý giác ngâm hai câu thơ có sẵn trong một bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ nổi tiếng thời Đường là Lạc Tân Vương và thay đổi một vài chữ cho phù hợp với cảnh vật lúc ấy, vậy mà Đỗ Thuận cũng ngâm tiếp hai câu thơ cũng chính là hai câu cuối trong bài thơ của Lạc Tân Vương và cũng thay đổi vài chữ cho thích hợp với hoàn cảnh. Lý Giác cũng rất đỗi ngạc nhiên bởi Đỗ Thuận chỉ là một người lái đò bình thường thôi mà lại tinh thông Nho học và có tài ứng đối vô cùng mẫn tiệp. Qua tài trí của người lái đò, chắc hẳn Lý Giác cũng thầm khâm phục trình độ văn hiến của dân tộc ta và tài năng của nhân dân ta. Vậy là mục đích của đại sư Khuông Việt nhằm “tỏ rõ cho họ biết trong nước mình không hiếm người có học thức và người nước mình khác người nước họ ở chỗ không phải ai cũng học chỉ để làm quan” đã đạt được.

Đến lượt mình, trong những lần gặp sứ thần Lý Giác, đại sư Khuông Việt lần nữa lại khiến cho Lý Giác phải ngạc nhiên khâm phục trước sự tinh thông, am hiểu Nho học của một bậc thiền sư. Những câu đối đáp của đại sư Khuông Việt thật thâm thúy, sâu xa, khiến sứ thần Lý Giác nể trọng vô cùng. Một lần nọ, khi Lý giác tò mò hỏi: “Được biết hồi trai trẻ, đại sư tinh thông Nho học, nhưng không hiểu vì cớ gì người lại chuyển sang Thiền học?”, “Phật học hơn gì Nho học?”. Đại sư đã trả lời đầy thâm ý rằng: “Hồi lão tăng còn ít tuổi, trên đường tìm thầy học đạo, nghỉ lại chùa Sơn Tĩnh, thấy trên vách đá khắc một bài thơ, xem kỹ mới biết Thẩm Thuyên Kỳ[10] sang Nam Việt chơi, nghe tiếng Vô Ngại Thường nhân đang tu ở chùa Sơn Tĩnh, Cửu Chân, bèn tìm đến yết kiến. Do cảm phục đạo học cao siêu, đạo hạnh cao vời của Vô Ngại Thường nhân, Vân Khanh đại nhân tự xưng là đệ tử, hai thầy trò đàm đạo khá tương đắc. Trước lúc từ biệt, vị đại nho này để lại bài thơ tỏ lòng tôn kính Thượng nhân như đức Phật giáng thế ở cõi Nam Việt vậy”[2; tr.99-101]. Chỉ nói vậy thôi, Lý giác cũng phải tự hiểu rằng: đến một bậc đại nho như Thẩm Thuyên Kỳ mà còn ước mong học Phật huống gì là Khuông Việt đại sư. Cách đối đáp thâm thúy, sâu xa của đại sư Khuông Việt vừa thể hiện trình độ học vấn tinh thông lại vừa dí dỏm, thông minh, khiến cho vị sứ thần nổi tiếng tài cao học rộng như Lý Giác cũng phải “tự suy ngẫm”.

Không chỉ mềm dẻo trong việc đón tiếp sứ thần nhà Tống mà khi có dịp, đại sư Khuông Việt cũng tỏ rõ thái độ kiên quyết, đầy dứt khoát của mình trong việc khẳng định tính độc lập bền vững của dân tộc. Câu chuyện sau đây là một minh chứng rõ nét cho điều đó.

“Một lần, khi đón tiếp sứ thần Lý Giác ở vườn chùa Quốc sư, Lý giác thấy có mộ con hươu đang bứt lá. Dù thấy người nhưng vì đã quen nên hươu không chạy. Lý Giác khen ngợi:

Nhà chùa thật từ bi, đến hươu nai cũng tự nhiên như chỗ rừng rậm núi cao của chúng.

Khuông Việt không nói gì, từ từ tiến lại gần con vật rồi bất thình lình vung gậy thiên trượng vụt tới tấp. Con vật hoảng sợ kêu rống lên và co cẳng chạy trốn.

Khuông Việt nhìn Lý Giác, cười hỏi:

Ông chánh sư thấy lão tăng có ác không? Vậy đó! Cái lũ chúng là chúa tham lam. Vì thương nó nên lão tăng mới đánh nó, để nó chừa cái thói xông bừa vào vườn nhà người ta đi! Nếu không, đến khi nó mò vào vườn nhà người khác thì họ không đánh đuổi nó đâu, mà sẽ bắt nó để lột da xẻ thịt! Có phải không ông chánh sư?” [2; tr.102]

Là một người nổi tiếng thông minh, học rộng tài cao như Lý Giác, ắt hẳn hiểu được những điều đại sư Khuông Việt muốn nói đằng sau câu chuyện của chú hươu kia. Tại sao con hươu đã quen ăn lá chùa lâu rồi mà nay Khuông Việt đại sư lại đánh đuổi nó ngay trước mặt chánh sứ Trung Hoa. Phải chăng ông muốn mượn chuyện đánh đuổi hươu để răn đe, cảnh cáo triều Tống. Nếu thiên triều Trung Hoa có ý đánh xâm chiếm đất đai, bờ cõi của nước Việt, nước Việt ta sẽ kiên quyết đánh trả để bảo vệ nền độc lập. Chắc rằng Lý Giác cũng chưa thể nào quên được thất bại nặng nề mà triều Tống phải nếm trải ở Đại Việt cách đấy 5 năm. Dư âm nặng nề của thất bại ấy luôn đè nặng trong lòng Lý Giác mỗi khi lĩnh mệnh đi sứ sang nước Việt ta và lời răn đe thâm thúy của đại sư Khuông Việt lần này sẽ lại khắc sâu thêm nỗi ám ảnh khôn nguôi ấy. Lời nhắc nhở, răn đe đầy kiên quyết mà thật thâm thúy, nhẹ nhàng. Nhắc nhở Lý Giác – một sứ thần do Thiên triều cử sang chính là sự cảnh cáo, răn đe gián tiếp đối với âm mưu xâm lược thường trực của Thiên triều Trung Hoa đương thời.

Đứng trước thực trạng biên cương đất nước thường xuyên bị de dọa và nhà Tống luôn mượn tiếng cử sứ thần sang sách phong cho ta nhưng thực ra là để dò xét tình hình chính sự trong nước ta và ra sức sách nhiễu, đòi cống biếu các vật phẩm quý hiếm, quốc sư Khuông Việt đã mượn lời văn nhẹ nhàng, thâm thúy trong bài từ diệu tiễn biệt Lý Giác “Tống Vương Lang qui” để bày tỏ rõ ràng sự bất đồng của mình.

“Tường quang phong hảo cẩm phàm trương

Dao vọng thần tiên phục đế hương

Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lang

Cửu Thiên quy lộ trường

Tình thảm thiết, đối ly thương

Phan luyến sư tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị biên cương

Phân minh tấu ngã hoàng”

(Dịch:Trời quang gió thuận, buồm gấm căng

Xa trông thần tiên trở về trời

Muôn trùng non nước lênh đênh trên song biếc

Đường về chin tầng trời còn dài

Tình cảm thiết cất chén chia tay

Lòng quyến luyến sứ thần không nỡ.

Xin đem thâm ý vì biên cương

Tâu rõ ràng lên đức hoàng đế) [1; tr.178]

Tiễn biệt sứ Tống mà bài hát lại được soạn theo điệu hát đang thịnh hành ngay trong triều đại của sứ giả nhà Tống khiến Lý Giác càng kính nể tài năng và thành ý của vị đại sư Khuông Việt cũng như của cả triều đình nhà Lê lúc bấy giờ. Điều đáng nói là đằng sau lời tiễn biệt thiết tha ấy là thâm ý sâu xa mà nước ta muốn nhắn gửi đến Thiên triều Trung Hoa. Hai nước Trung Quốc và Việt Nam nghìn trùng sông núi cách trở, mỗi lần sứ thần qua lại thật muôn phần vất vả. Chi bằng có việc gì hệ trọng cứ giao thư cho viên quan ở đầu biên giới nhận chuyển về triều. Rõ ràng thông qua từ khúc tặng tiễn Lý Giác, đại sư đã gián tiếp bày tỏ ý muốn bãi bỏ lệ sứ giả mang chiếu thư hay chế sách của Thiên triều sang đất Việt, với bao lễ nghi đón rước, tiễn đưa phiền toái. Kết quả là: từ đó, chỉ trừ trường hợp đặc biệt, nhà Tống mới sai sứ sang tận kinh đô Hoa Lư. Nước Đại Cồ Việt dưới thời Lê Hoàn theo đó mà đã giảm bớt được nạn sứ giả sách nhiễu. Cho đến năm Đinh Dậu (997), Tống Nhân Tông lên ngôi đã ra lệnh bãi bỏ hẳn việc cử sứ sang Nam Việt, chỉ sai quan giữ biên giới đến nhận mệnh. Như vậy là bằng phong cách ngoại giao mềm dẻo mà đầy kiên quyết, Khuông Việt đại sư đã thành công trong việc bãi bỏ nạn sứ giả nhà Tống sang quấy nhiễu, hạch sách nước ta. Đây là một thắng lợi lớn của nền ngoại giao Đại Cồ Việt dưới thời Tiền Lê.

Đến đây, chúng ta thấy rõ một sự kết hợp tuyệt vời giữa sự uyên thâm của đạo Nho và sự thản nhiên, tĩnh tại, mềm dẻo của đạo Phật trong phong cách Ngoại giao ở Khuông Việt đại sư. Thật đáng kính biết bao trước một nhà ngoại giao trí – dũng vẹn toàn như thế. Trí ở chỗ tinh thông Nho học, hiểu biết tường tận địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa của đối phương cũng như của nước mình. Dũng ở chỗ vượt lên mọi khó khăn, định kiến, tình cảm cá nhân để đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, dám đề xuất những nhận định, suy nghĩ chủ quan có lợi cho dân, cho nước, dám kiên quyết chống lại những hành động đe dọa đến biên cương Tổ quốc…Thiết nghĩ những phẩm chất ấy, phong cách ngoại giao ấy vẫn là những bài học cần thiết cho những nhà ngoại giao nước ta trong thời đại ngày nay.

ThS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Đại học Sư phạm Hà Nội

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1.Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961.
  2. 2.Hoàng Tuấn Phổ, Văn Lang, Nguyễn Anh. Truyện danh nhân Thanh Hóa, tập 1, Nxb Thanh Hóa, 1983.
  3. 3.Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga (dịch và chú thích). Thiền Uyển Tập Anh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1990.
  4. 4.Nguyễn Lang. Việt Nam phật giáo sử luận, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1994.
  5. 5.Nguyễn Thế Long. Bang giao Đại Việt triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005.
  6. 6.Khánh Vân, Nguyễn Thụy Hòa. Tiểu truyện các thiền sư Việt Nam – phái Vô ngôn thông, Nha tuyên úy Phật giáo,


[1] Cát Lị (cũng đọc là Cát Lợi), tên hương đời Lý. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ 1, tờ 8a) chép việc Phạm Hạp bị Lê Hoàn đánh đuổi phải chạy về hương Cát Lị ở Bắc Giang, tức là hương này, hiện chưa rõ ở đâu. Trong “Truyện danh nhân Thanh Hóa” do Hoàng Tuấn Phổ (chủ biên), Nxb Thanh Hóa, 1983 thì chép rằng: Ngô Chân Lưu vốn người Châu Ái.

[2] Ngô Thuấn Đế: một thụy hiệu của Ngô Quyền. Theo gia phả họ Ngô thì Khuông Việt đại sư (Ngô Chân Lưu) là con Ngô Xương Tỷ, cháu Ngô Xương Sắc.

[3] Xem thêm: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga (dịch và chú thích). Thiền Uyển Tập Anh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1990, tr.42.

[4] Triều Lý thành lập từ năm 1009.

[5] Hai chữ Khuông Việt có nghĩa là giúp đỡ, sửa sang, khuông – phù nước Việt

[6] Hay còn gọi là biện pháp “Phạt giao” tức dùng ngoại giao để đe dọa, nạt nộ, lừa gạt người để bắt người phải hàng phục, phải cống nạp, phải chịu sự thống trị của mình. “Phạt giao” thành công thì khỏi phải vũ trang xâm lược.

[7] Trên thực tế, Lê Hoàn vẫn là hoàng đế của một nước độc lập, không phải tiết độ sứ của một địa phương nào của Tống.

[8] Giang lệnh: tức người trông coi một khúc sông

[9] Quốc tử giám bác sĩ: tương tự giáo sư đại học bây giờ.

[10] Thẩm Thuyên Kỳ tự là Vân Khanh, người xã Nội Hoàng, đỗ tiến sĩ khoảng niên hiệu Tràng An (701 - 704), làm quan đến Tu văn quán học sĩ, nức tiếng thơ hay đời Đường.

 

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552606
    Đang online :26
    Bảng quảng cáo