Tư tưởng chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn

altKhẳng định tư tưởng chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn là kết quả tương tác của ba yếu tố:

Sự suy ngẫm kinh nghiệm chính trị của tiền nhân, sự đúc rút kinh nghiệm chính trị của bản thân và tính quy định của nền chính trị xã hội đương thời, trong bài viết này, tác giả tập trung làm rõ những nội dung chính trong tư tưởng chính trị đó của ông trên hai phương diện: Lý luận chính trị nhị nguyên và tư tưởng chính trị thực hành. Từ đó, tác giả khẳng định tính độc đáo và giá trị đặc sắc của tư tưởng chính trị này trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam.

 

 Cuộc đời của Lê Quý Đôn (1726-1783) nằm trọn trong giai đoạn ổn định nhất của thế kỷ XVIII. Là một học giả có trước tác phong phú về số lượng và thể loại vào bậc nhất Việt Nam thời phong kiến, Lê Quý Đôn nổi tiếng uyên bác về học vấn và tư tưởng. Trong đó, sự thông kim bác cổ cùng với tinh thần biến dịch, tuỳ thời đã khiến tư tưởng chính trị của ông chứa đựng nhiều nội dung mới, có giá trị đối với đương thời và hậu thế. Tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn là kết quả tương tác của ba yếu tố: Sự suy ngẫm kinh nghiệm chính trị của tiền nhân, sự đúc rút kinh nghiệm chính trị của bản thân và tính quy định của nền chính trị xã hội đương thời. Nói cách khác, bên cạnh nhân tố tư chất cá nhân thì nền học vấn chính trị Nho học và những thể chế chính trị, kinh tế, xã hội đầu thế kỷ XVIII đã đóng một vai trò hết sức quan trọng cho sự hình thành xu hướng tư tưởng chính trị - xã hội của ông. Bài viết này tập trung giới thiệu những nội dung chính trong tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn.

1.    Lý luận chính trị nhị nguyên

Chịu ảnh hưởng trực tiếp của thể chế chính trị lưỡng đầu([1]), Lê Quý Đôn hình thành một hệ thống tư tưởng chính trị mang tính nhị nguyên điển hình. Xuất thân khoa bảng và nền học vấn Nho giáo đã khiến ông tiếp tục ca ngợi đường lối chính trị vương đạo. Tuy nhiên, hiện thực chính trị đất nước lại khiến Lê Quý Đôn không thể khăng khăng chỉ đề cao vương đạo. Thêm nữa, là người quán xuyến tri thức cổ học, có lối tư duy phê phán khoa học, ông đã nhận thấy những mặt mạnh và mặt hạn chế trong vương đạo và bá đạo, cũng như trong chủ trương thực hiện đường lối chính trị dung hoà hai xu hướng này.

Với tư duy phân tích sắc sảo, Lê Quý Đôn đã so sánh đường lối nhân nghĩa, vương đạo với đường lối pháp trị, bá đạo về mặt thời gian và thành tựu để khẳng định tính ưu việt hơn của đường lối vương đạo: “Đức hoá của Văn Vương mãi trăm năm sau mới lưu hành rộng rãi, người ta ai không cho rằng thành công của đường lối nhân nghĩa là chậm và tất phải dùng sức trí trá để có hiệu quả nhanh. Nhưng nhà Tần chuộng sức trí trá, trải sáu đời vua, có hơn trăm năm mới nhất thống được thiên hạ, rồi chỉ mười lăm năm sau đã mất. Sự nhanh chậm của đức (đức hoá) và sức (sức trí trá) kết quả thế nào đời sau tất sẽ phân biệt được”(2). Song, Lê Quý Đôn cũng coi trọng thành quả thực tiễn của bá đạo và chủ trương kết hợp cả vương đạo với bá đạo trong thuật trị nước: “Trị nước theo vương đạo là tốt đẹp nhất nhưng thực hiện chính sách bá thuật để cho nước được giàu mạnh cũng không phải là chuyện dễ”(3).

Chủ trương chính trị nhị nguyên này của ông dựa trên một quan niệm cởi mở về phương pháp chính trị của vương đạo và bá đạo. Ông ủng hộ quan điểm của Ôn Công cho rằng: “Đạo làm vương và đạo làm bá không khác nhau, đều gốc ở “nhân”, sinh ra ở “nghĩa” và là những việc như dùng người hiền, cất nhắc người tài, khen người lành, trị tội kẻ ác, ngăn cấm kẻ hung bạo, trừ giết kẻ làm loạn, xét danh vị có cao thấp, đức trạch có sâu có nông, công nghiệp có lớn có nhỏ mà thôi”. Lời bàn ấy của Ôn Công rất phải...”(4). Cách lý giải theo hướng đồng nhất vương đạo với bá đạo, dựa vào sự tương đồng về hình thức trong phương pháp thực hiện đạo vương và đạo bá như trên, thật ra là một trò chơi ngôn ngữ tinh xảo của Lê Quý Đôn, khi ông đánh tráo khái niệm đường lối đức trị bằng những phương pháp chính trị cụ thể. Rõ ràng, việc dùng người hiền, trị tội kẻ ác... là những phương pháp chính trị không chỉ riêng có của đường lối đức trị, nhưng không thể lấy đó làm tiêu chuẩn để đồng nhất vương đạo với bá đạo. Tuy nhiên, với quan niệm mềm dẻo về vương đạo và bá đạo theo cách đó, ông đã đưa ra cách hiểu về vương đạo và bá đạo theo hướng phù hợp với thực trạng chính trị của thời đại ông. Tính nhị nguyên đề cao cả hai đường lối trong đạo trị nước của ông là dựa trên cách hiểu này. Trên cơ sở đó, ông ra sức ca ngợi và đánh giá cao học thuyết chính trị của Quản Trọng: “Quản Tử, trên bàn kỷ cương trời đất; dưới nói tình hình nhân vật; sáng đạo đức, chuộng nhân nghĩa. Đủ cả danh lẫn thực mà không phiền toái. Hình pháp tuy nghiêm mà trung hậu. Xét rõ: ý nghĩa không khác gì ý nghĩa của đạo tam vương. Còn như học thuyết Hàn, Thương, thiên trọng về hình danh, không được đầy đủ; kém Quản Tử xa lắm”(5).

Từ sự đồng nhất vương đạo và bá đạo về mặt phương tiện, từ sự đánh giá ưu thế của hai đường lối, Lê Quý Đôn chủ trương đường lối chính trị kết hợp cả vương đạo và bá đạo. Với ông, thực hiện đường lối nhân nghĩa là lý tưởng tốt đẹp trong việc trị nước an dân, nhưng việc xây dựng thế nước cho mạnh, giàu theo tư tưởng bá đạo cũng là việc phải làm để thực hiện sự nghiệp chính trị: “Từ xưa các bậc đế vương đều coi trọng việc võ bị. Muốn cho nước trị, ngoài giáo hoá, lễ nhạc, phải thường xuyên chăm lo việc quân cơ, binh phục”(6).

Xuất phát từ nguyên tắc kết hợp vương đạo với bá đạo, Lê Quý Đôn đã triển khai một số nội dung cụ thể cần tuân thủ trong cả hai đường lối, như kết hợp giáo hoá với củng cố sức mạnh quân sự, kết hợp đức trị với pháp trị,...

Trong đường lối vương đạo, Lê Quý Đôn đề cao  tư tưởng “dân vi bang bản” của Mạnh Tử, coi việc được lòng dân là yếu tố quyết định sự tồn vong của vương triều. Từ đó, ông coi trọng việc giáo hoá dân chúng, tin tưởng vào khả năng giáo hoá được người dân. Bởi theo ông, đường lối nhân nghĩa chính là thuận theo chính lý của thiên hạ. Triều đình mà theo chính lý thì dân sẽ theo: “Đạo của đế, của vương đều muốn thuận theo cái lý của thiên hạ mà cai trị. Nhân nghĩa là chính lý của thiên hạ, người ta ai cũng thích”(7). Đồng nhất lẽ trời và lòng người, ông cho rằng, trị dân là phải theo lẽ trời và lòng dân. Người làm vua phải biết sợ dân, kính thân, tu thân, làm điều nhân với dân: “Vua Thuấn nói: “Người đáng sợ, không phải là dân ư?”(8). Mối liên hệ hữu cơ giữa ngôi vua và lòng dân được ông tiếp tục khẳng định trong sự triển khai tư tưởng chính trị vương đạo của mình: “Dân là căn bản của nước, căn bản vững chắc thì nước mới yên”(9).

Lê Quý Đôn khẳng định sự an nguy của vương triều là ở lòng dân. Lòng dân một khi lung lay, tức là đã có mối lo lớn ở đó”(10). Từ quan điểm này, ông cảnh báo nguyên nhân suy vong của vương triều là vì chính sự hà khắc, mất lòng dân, không an dân: “Lúc đầu do chính sự khắc nghiệt, thuế khoá nặng nề, binh cách quá nhiều, hình phạt phiền phức, quan lại tham nhũng, trăm họ phiêu bạt; thêm vào đó là lụt lội, hạn hán; cộng vào đó nữa là đói khát, làm cho dân không thể nào sống được, phải đi làm giặc. Một người dấy lên, trăm nghìn người hùa theo, cùng nhau vùng dậy, không sức gì cản được. Tức thì cái thế đất lở dần xuất hiện... Nếu không để xảy ra cái thế đất lở thì ngay dẫu có nước mạnh binh hùng xâm phạm, cũng chỉ trong chốc lát đã diệt được...”(11). Chính sách không thuận lòng dân sẽ khiến dân bất an và dẫn tới thế đất lở, là cái thế nguy hiểm nhất cho vương triều, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm hay nội loạn cung đình.

Như vậy, có thể nói, quan điểm chính trị vương đạo của Lê Quý Đôn tập trung vào vấn đề mấu chốt nhất là chính sự phải hợp lòng dân, lấy sự yên ổn của dân để đo sự thuận ý trời, để bảo vệ ngôi vua được bên vững, dài lâu.

Song song với đường lối vương đạo, Lê Quý Đôn cũng đề cao việc sử dụng bá đạo trong trị nước. Trong những nội dung của bá đạo, ông nhấn mạnh tới hai phương diện chủ yếu là chăm lo võ bị, nâng cao sức mạnh  quân sự của đất nước và chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân. Với ông, hai phương diện sức mạnh quân sự và sức mạnh kinh tế liên quan chặt chẽ với nhau và là hai nhân tố chính đảm bảo cho sự yên ổn trong dân chúng. Củng cố quân sự, võ bị là một đường lối làm cho nước chiếm được thế mạnh buộc kẻ địch phải phụ thuộc vào mình: “Muốn cho nước mạnh tất phải độc chiếm lấy cái quyền điều khiển thiên hạ, khiến cho ta có cái thế sai khiến người, làm cho kẻ địch cử động phải phụ thuộc vào ta, rồi sau đó cái uy của nước mới có... ”(12). Làm cho dân giàu có, yên ổn làm ăn thì tránh được cái thế đất lở, củng cố sự vững bền của ngôi báu. Như vậy, hai mũi nhọn kinh tế và quân sự sẽ tạo ra được sự giàu mạnh thực sự của dân, của nước, nhờ đó không còn e ngại gì giặc ngoài, thù trong. Sức mạnh kinh tế là để dân yên ổn, còn sức mạnh quân sự là để tạo thế trấn áp, sai khiến thiên hạ. Đó chính là căn nguyên thực sự khiến Lê Quý Đôn đặc biệt đề cao đường lối của Quản Trọng: “Quản Trọng đặt ra phép nội chính(13), tuy nói là thay đổi chế độ đời xưa, nhưng thực ra là đã hiểu thấu tình thế thời ấy vậy”(14).

Ngoài việc củng cố sức mạnh quân sự và kinh tế, trong nội dung chính trị bá đạo, Lê Quý Đôn còn nêu rõ chủ trương trị nước phải kết hợp đạo đức với luật pháp. Luật pháp ở đây được ông hiểu trước hết là các phép tắc của tiền triều đã được thừa nhận và phổ biến: “Đường lối chính trị phải có pháp luật, điển lệ. Vua quan không thể tuỳ ý riêng của mình mà xét xử tội hình hay ban thưởng công trạng”(15). Tuy nhiên, ông không cứng nhắc tới mức tuyệt đối hoá pháp độ của tiên vương. Tinh thần tuỳ thời được ông quán triệt mà theo đó, trị nước phải có thể lệ noi theo tiên vương, nhưng cũng phải châm chước theo thời: “Thể lệ do người đời trước sáng lập ra, mà người đời sau tuân giữ, đều tuỳ thời nghi, xưa nay không có cách cục nhất định... Hiến chương cũ của tiên vương cũng châm chước phép tắc đời thượng cổ mà làm ra, nhưng tuỳ thời thêm bớt, có chỗ không giống nhau”(16).

Tinh thần nhị nguyên quán xuyến tư tưởng Lê Quý Đôn tới mức ông luôn đưa ra hai lựa chọn song trị: vừa tuân thủ pháp tiên vương, vừa tùy nghi châm chước phép tắc đời trước. Nhưng, châm chước như thế nào, tuỳ thời ra sao để không phải là “tùy ý riêng” thì ông không bàn rõ.

Ngoài ý nghĩa là điển lệ của tiên vương, pháp trong quan niệm của Lê Quý Đôn còn là kỷ cương, hình phạt. Ông coi kỷ cương là lễ pháp hình chính, là đầu mối lớn, căn bản lớn để trị thiên hạ. Cơ sở để ông coi trọng cả lễ giáo và hình phạt trong đạo trị nước xuất phát từ quan niệm triết học của ông về tính, về khí chất của con người: “Giời sinh muôn dân, tính vốn thiện, nhưng khí chất không như nhau; quân tử ít mà tiểu nhân thì nhiều,... Cho nên quân tử dùng hình phạt để đề phòng dâm loạn, dùng lễ giáo để đề phòng tư dục”(17). Thừa nhận thực tế dân tình bị tư dục chi phối, khí chất khác biệt dẫn tới sự tồn tại của cái xấu, cái ác, ông không ảo tưởng vào phương tiện giáo hoá đạo đức như là công cụ duy nhất để điều chỉnh xã hội mà cho rằng, mỗi phương tiện có phạm vi tác dụng riêng, không thể thay thế và việc dùng cả lễ giáo lẫn hình phạt trong cai trị dân chúng là điều tất yếu.

Những phân tích trên cho thấy Lê Quý Đôn chủ trương đường lối chính trị nhị nguyên: kết hợp cả vương đạo và bá đạo trong trị nước. Sự kết hợp đó dựa trên nền tảng phê phán lịch sử chính trị Trung Hoa cổ đại và căn cứ vào thực trạng chính trị Đại Việt thế kỷ XVIII. Xuất phát từ nhu cầu củng cố chế độ lưỡng đầu song tồn triều đường - vương phủ, Lê Quý Đôn đã lựa chọn những nội dung trong vương đạo và bá đạo mà ông cho là thích ứng nhất cho sự vững bền của chế độ mà ông phụng sự: đường lối nhân nghĩa hợp lòng dân kết hợp với chính sách nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế, giáo hoá dân chúng kết hợp với kỷ cương luật pháp. Đó là những nội dung cơ bản nhất trong lý luận chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn.

Từ quan điểm quán xuyến chung về đường lối chính trị đó, Lê Quý Đôn đã đưa ra những tư tưởng chính trị thực hành cụ thể, góp phần hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng chính trị nhị nguyên của mình.(16)

2.    Tư tưởng chính trị thực hành của Lê Quý Đôn

Tư tưởng chính trị thực hành của Lê Quý Đôn tập trung vào hai nội dung lớn: Xây dựng đạo làm vua và đạo làm quan. Khi xác định mối quan hệ chính trị căn bản nhất là quan hệ giữa vua - quan và dân, ông coi đây là mối quan hệ gắn kết hữu cơ: “Gốc của nước là dân, mệnh của vua cũng là dân. Bọn cường thần gây loạn bên trong, nước thù địch quấy rối bên ngoài đều chưa đáng lo lắm. Chỉ khi lòng dân dao động mới là điều đáng sợ”(18). Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của việc yên dân và vai trò quyết định của người làm vua, làm quan trong sứ mệnh yên dân, ông đặc biệt tập trung vào việc xây dựng tư tưởng về đạo làm vua, làm quan.

Lê Quý Đôn nhận thức tầm quan trọng của đạo làm vua là: “Đạo trị thiên hạ của người làm vua là làm quy củ cho việc quản lý đất nước, điều khiển bách quan, bảo vệ cho muôn dân. Làm cho mọi người được quân bình là việc vô cùng vĩ đại, người vận hành việc thiên hạ sao có thể không để tâm tới?”(19). Vua trước hết phải nêu gương đạo đức yêu cha mẹ, kính huynh trưởng thì dân sẽ noi gương và thiên hạ thái bình. Những chính sự cơ bản mà nhà vua phải làm để trị dân được quy định từ xưa đến nay bao gồm trong “bát chính”, đó là các việc: Lo ăn ở cho dân (thực); lo hoá vật sinh sôi nảy nở (hoá); lo thờ cúng cha mẹ, tổ tiên (tự); lo định làng, lập ấp, yên định dân cư (tư không); lo giáo dục dân (tư đồ); lo giữ an ninh, pháp luật (tư khấu); lo nghi thức đối ngoại tiếp đón, lễ lạt (tân); lo tu trị quân sự (sự)(20). Như vậy, những việc vua phải lo toan quán xuyến là bao gồm toàn bộ việc đối nội, đối ngoại, giữ gìn an ninh, thờ cúng cha mẹ, tổ tiên, trời đất, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Ngoài bát chính, Lê Quý Đôn còn đưa ra tư tưởng người làm vua phải thực hành “tam bảo, lục thủ” trong trị nước. Tam bảo là: đại nông, đại công, đại thương. Lục thủ là: nhân, nghĩa, trí, tín, dũng, mưu. Lục thủ phát triển thì nước thịnh vượng, tam bảo toàn vẹn thì vua yên (dân yên)(21). Không chỉ là nhị nguyên luận chính trị thể hiện rõ ràng trong quan niệm này, ở đây, chúng ta còn thấy rõ ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế đối với tư tưởng chính trị của ông.

Tư tưởng người làm vua phải trọng dụng người tài trong trị nước là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong chính trị thực hành của Lê Quý Đôn. Bởi lẽ, theo ông, người làm vua phải biết chọn người tài giỏi làm tướng, làm quan giúp vua trị dân, hoàn thành được đạo làm vua. Ông khẳng định phải chọn người tài giỏi làm tướng trước, còn những việc trị nước cụ thể bàn sau: “Người làm vua bàn việc trị nước, có ai bàn trước đến việc chọn người làm tướng đâu. Nhưng nếu chọn được người tài giỏi thì muôn việc đâu vào đấy, nếu chọn phải kẻ bất tài thì muôn việc sẽ đổ vỡ. Việc chọn lựa ấy thật là khó, trách nhiệm ấy thật là nặng nề”(22).

Coi đội ngũ nhân sự trong bộ máy triều chính là nhân tố quyết định thành bại của việc thi hành đường lối trị nước của vua, Lê Quý Đôn cho rằng, nguyên nhân nước yếu là do dùng người tầm thường thay chỗ người hiền tài. Ông cảnh báo việc người làm vua chỉ thích dùng người giống mình, dùng kẻ hương nguyện(23), không thích người tân tiến sẽ khiến người tài bị hao mòn tráng chí, nguyên khí của quốc gia bị hao tổn, dẫn tới sự suy yếu của thế nước.

Đề cao việc trọng dụng người tài trong đạo làm vua, Lê Quý Đôn quan niệm tùy tài mà trao chức. Ông phân biệt ra ba loại người tài để tuỳ theo mỗi loại mà dùng cho đúng mục đích, sở trường của họ: Hạng tài năng, độ lượng siêu việt xuất chúng; hạng bình thường, không có lỗi và hạng bình tĩnh, hoà nhã, thích làm việc phải, thuỷ chung: “Đem 3 loại ấy để định luận nhân cách thì đều đắc dụng ở triều”(24).

Cùng với tư tưởng về đạo làm vua, Lê Quý Đôn còn đưa ra tư tưởng xây dựng đạo làm quan. Theo ông, đạo làm quan là: “Trên thờ vua, dưới trị dân, giữ trọn chức trách, theo đòi chính sự, kẻ làm tôi có phép thường, đấng thánh thân đã dạy sẵn, các vị tiên nho đời này qua đời khác lại càng nắm vững những lời dạy bảo ấy. Công nghiệp to lớn thường ở đó mà ra”(25). Ông cho rằng, trăm quan quyết định việc trị hay loạn của một nước, người có đức, có tài nhậm chức thì trị, người bè cánh, hung ác nhậm chức thì loạn; do vậy, xây dựng được một đạo làm quan chuẩn mực để người làm quan lấy đó mà thực hiện, noi theo là hết sức cần thiết. Ông xác định những nhiệm vụ của người làm quan ở mọi nơi, mọi lúc: “Kẻ sĩ làm quan hành chính... phải nghĩ làm sao để vỗ về binh nông, dấy lợi trừ hại, tuyên bố giáo điều, dời đổi phong tục, hết khả năng tâm lực mà làm điều chức phận nên làm, để thoả lòng bề trên, ban ơn dân chúng. Dẫu thời có khó dễ, thế có nên chăng, theo thời mà châm chước tính lường thì việc gì cũng thích đáng cả”(26).

Lê Quý Đôn cho rằng, người quân tử phải đạt tiêu chuẩn có được “chín điều hay”(27) về ngôn từ và tri thức Nho giáo thì mới là người có đức, mới có thể làm quan đại phu. Ông đã đồng nhất văn với đức, với tài, với sự hiểu biết và cách thức thể hiện tri thức theo những hình thức của văn (bói rùa, ra mệnh lệnh, làm minh, làm thơ ca, làm lời thệ, đặt tên hèm...). Ngoài chín điều mà người làm quan phải biết, ông còn đưa ra một số lời khuyên trong đạo làm quan, như sáu điều nên theo và sáu điều nên bỏ của kẻ sĩ đi làm quan: “Mình có cái hay thì chớ giữ riêng, dạy bảo cho người kém thì không nên trễ biếng; việc đã qua thì không nên xoi mói; lỡ lời không nên chống đỡ, có làm điều gì bất thiện thì đừng bỏ qua, muốn làm điều hay thì không chần chừ”(28). Đây là những lời khuyên có tính chất ứng dụng thực tiễn có thể giúp người làm quan giữ gìn sự bình an và thành đạt, xuất phát từ chiêm nghiệm của bản thân ông trong quá trình làm quan. Theo ông, kẻ làm chính sự phải khéo léo, hiểu thấu nhân tình, có cứng, có mềm và phải biết kết hợp cứng mềm. Người làm quan cũng phải luôn tu dưỡng sao cho được lòng người và hợp ý trời, phải hiểu được ích lợi của việc kiệm ước và tai họa của sự xa xỉ. Ông cho rằng, sự ham muốn khiến cho người làm quan dễ mắc vào tai vạ, tội lỗi, đi sai chính đạo. Do vậy, ông đặc biệt đề cao tri thức và sự tu dưỡng cá nhân trong việc thực hiện đạo làm quan.

Xác định rõ ràng vị trí và vai trò của từng nhân tố trong mối quan hệ chính trị cơ bản nhất của xã hội là quan hệ vua-quan-dân, Lê Quý Đôn tập trung vào việc xây dựng những nội dung cốt yếu, quan trọng nhất của đạo làm vua và đạo làm quan, hình thành nên hệ thống tư tưởng chính trị thực tiễn của mình. Tư tưởng trị nước của Lê Quý Đôn đặc biệt đề cao tính biện chứng. Ông cho rằng, người làm chính trị phải luôn luôn vận động, thay đổi, không khư khư một học thuyết nào hay một phương tiện nào, không nên câu nệ về đời xưa hay tuỳ thích về đời nay: “Nước chảy không thối, then cửa không mọt, vì nó luôn vận động, huống chi trị thiên hạ mà lại không vận động liệu được sao?”(29). Đó là nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng chính trị thực hành của Lê Qúy Đôn.

Có thể nói, tư tưởng chính trị nhị nguyên của Lê Quý Đôn là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời đại mà ông đang sống, thời đại manh nha một sự đa dạng học thuật và phát triển kinh tế thương mại, góp phần tạo lập, hợp lý hoá và phát triển xu hướng chính trị kết hợp vương đạo với bá đạo về mặt lý luận . Đường lối nhị nguyên chính trị này đã tỏ ra thích ứng với thực trạng xã hội đương thời. Ông là người duy nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam đã công khai ca ngợi đường lối bá đạo của Quản Trọng và lấy đó làm một tấm gương trị nước. Tinh thần quyền biến, tuỳ thời trên nền tảng lấy nhân nghĩa làm kim chỉ nam trong tư tưởng chính trị của ông là một giá trị đặc sắc trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam. 

 -


Tác giả: PGS.TS. Lê Thị Lan (Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện KHXH VN)

 

EmailEmail InPrint PDF.
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 16 Tháng 3 2016 08:51 )

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552035
    Đang online :31
    Bảng quảng cáo