Trong cuốn sách “Luật học Tinh yếu”, Hoà thượng Luật sư Thích Phước Sơn khẳng định: “Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp. Có thể nói, Giới pháp là kim chỉ nam, là những nguyên tắc sinh động để hướng dẫn đời sống của Tăng sĩ từ tục đến chân, từ phàm đến Thánh, từ cõi mê mờ đến chân trời giác ngộ”.
Theo lịch sử kết tập kinh tạng: Sau khi lo xong việc trà-tỳ đức Thế Tôn, tôn giả Đại Ca-diếp bèn triệu tập đại hội kết tập Pháp tạng ngay trong mùa an cư năm ấy. Đại hội này mở tại thành Vương Xá, với 500 vị A-la-hán (Arahant) tham dự, tôn giả Ưu-ba-li (Upali) kết tập Luật tạng, tôn giả A-nan (Anandà) kết tập Kinh tạng. Luật tạng được đọc lại, rồi đại chúng chung quyết, đến 80 lần mới hoàn thành, cho nên đặt tên là bộ Bát Thập Tụng Luật.
Trong khi kết tập, toàn thể đại hội đã nhất trí: Giữ nguyên những gì do Phật chế định. Những gì Phật không chế định thì không được tùy tiện đặt ra. Tuy nhiên, Tăng chúng có thể tùy theo hoàn cảnh, địa phương và thời đại mà linh động áp dụng những giới điều nhỏ nhiệm do Phật đã chế.
Theo lịch sử Phó Pháp Tạng thì sự kế thừa Chính pháp của Phật, Tổ sư thứ nhất là tôn giả Đại Ca-diếp, thứ hai tôn giả A-nan, thứ ba tôn giả Mạt-điền-địa, thứ tư Thương-na-hịa-tu, thứ năm Ưu-ba-cúc-đa. Tương truyền Ưu-ba-cúc-đa có 5 người đồ đệ xuất sắc, tách riêng ra lập thành 5 bộ phái, rồi dùng bộ Bát Thập Tụng Luật châm chước theo quan điểm của mình, soạn ra 5 bộ luật sau:
1. ĐÀM-VÔ-ĐỨC BỘ (Dharmagupta): Tứ Phần Luật.
2. TÁT-BÀ-ĐA BỘ (Sarvàstivàda): Thập Tụng Luật.
3. CA-DIẾP-DI BỘ (Kasyapiya): Giải Thoát Luật.
4. DI-SA-TẮC BỘ (Mahisasaka): Ngũ Phần Luật.
5. BÀ-TA-PHÚ-LA BỘ (Vatsiputriya): Ma Ha Tăng Kỳ Luật.
Giáo pháp của Phật bao hàm Tam vô lậu học Giới, Định, Tuệ nhưng Giới là cơ sở của Tam học. Nếu chẳng trì giới thì sự tiến lên con đường giải thoát trở thành không tưởng. Vì thế, tất cả đệ tử của Phật đều phải trì Giới. Song chỗ sâu cạn có sai khác, cho nên trong các đại đệ tử chỉ có trưởng lão Ưu-ba-li được Đức Phật khen là người trì giới đệ nhất.
Kế thừa truyền thống này, khi Luật điển truyền sang Trung Quốc và được phiên dịch đầy đủ, các Luật sư bèn chuyên tâm nghiên cứu Luật tạng, mà chủ yếu là bộ Luật Tứ Phần. Theo lịch sử ghi lại, thì sự hoằng truyền Luật Tứ Phần bắt đầu từ thời Nguyên Ngụy do Luật sư Pháp Chính, Pháp Chính truyền xuống Pháp Thời, Pháp Thời truyền xuống Pháp Thông, Pháp Thông truyền xuống Đạo Phú, Đạo Phú truyền xuống Tuệ Quang. Đệ tử của Tuệ Quang có Đạo Vân, Đạo Huy, rồi lần lượt truyền xuống đến Đạo Tuyên.
Tổ Đạo Tuyên ở vị trí thứ 9 trong 9 vị Tổ sư của Luật Tứ Phần, nhưng vì Ngài có công lớn trong việc hoằng dương Luật học và để lại những công trình soạn thuật, chú thích rất có giá trị về bộ Luật này nên người đời sau suy tôn Ngài là Tổ thứ nhất của Tứ Phần Luật.
Ở Việt Nam, thời cận, hiện đại có các ngài như Tổ Tuệ Tạng (Đức Thượng thủ Tăng già), Tổ Vĩnh Nghiêm, Tổ Khánh Hoà, Tổ Hành Trụ, Tổ Khánh Anh, Hoà thượng Thích Thiện Hoà, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Đại lão Hoà thượng Thích Tâm Tịch, Đại lão Hoà thượng Thích Tâm Thông, Hoà thượng Thích Bình Minh, Đại lão Hoà thượng Thích Trí Thủ, Đại lão Hoà thượng Thích Trí Tịnh (Vạn Đức), Trưởng lão Hoà thượng Thích Thanh Sơn, Trưởng lão Hoà thượng Thích Minh Thông (Luật viện Huệ Nghiêm), Trưởng lão Hoà thượng Thích Minh Thông (Khánh Hoà)… các bậc tôn túc tinh nghiêm về Luật tạng, là khuôn mẫu cho các thế hệ Tăng Ni noi theo tu học.
Dưới đây là một số hình ảnh Thượng toạ Luật sư Thích Thiện Chơn, Uỷ viên Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, Phó Hiệu trưởng Trường TCPH TP.HCM giảng dạy bộ môn “Luật học đại cương” cho TNS hai lớp CĐ8, CĐ9.


