Nhị khóa: Hai thời khóa tụng; Hiệp giải: nhập chung để giải. Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư (núi Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc năm Tân Dậu – 1921) đem hai thời kinh khóa tụng: Sáng và chiều nhập chung lại làm một đại thể.
Tổ Khánh Anh (chùa Phước Hậu – Việt Nam) đã san dịch lại vào năm 1958 và lưu truyền hàng đệ tử tu học sau biết được cách hành trì. Bộ kinh văn chia làm hai tập thượng và hạ: Tập thượng nói riêng trọn về thời kinh mai, tập hạ nói nguyên vẹn cả thời kinh chiều, gọi là “Nhị khóa hiệp giải”.
Người tu Phật, trước hết phải học cho thông suốt cả chữ lẫn nghĩa của trọn thời khóa tụng, để tiện khi vừa tụng thuộc lòng, vừa xét hiểu ý nghĩa. Lại trước phải luyện cái tâm tập định được thuần thục.

Rạng mai là lấy nghĩa rằng tâm hồn vẫn còn suốt phẳng làm cốt; còn chiều hôm là dùng ý rằng hướng ngay về Tịnh độ làm chủ.
Ý nghĩa kệ chú: “là để sớm trị cái bệnh ngũ dục chưa mống mầm, chóng kỳ cho được tâm hồn phẳng suốt, rỡ bày ngay cái tính mầu chân như của Như Lai tạng, đó là chỗ gọi rằng “phẳng lặng chẳng động”, đồng để rửa sạch những bụi phiền não trong tâm ta, hễ bụi lòng đã sạch, thì tỏ được lòng Đại Bi đồng thể chuyển đặng xe Pháp. Những lời kệ chú với sự nhiếp tâm và lấy sự hành trì hồi hướng lên ngôi Tam Bảo chứng minh để: Nguyện cho pháp giới chúng sinh, bốn ân, ba hữu, tám nạn, ba đồ đều nhờ ơn khỏi khổ. Nước thịnh, dân an. Đàn việt tín đồ tăng thêm phúc tuệ.
Kinh chiều “Kinh A Di Đà”, là để cho tỏ được cái cảnh mầu Chính báo là căn thân, Y báo là quốc độ của nước Cực Lạc, và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu Phật để làm “chính nhân”, thế chính là muôn cho chúng sinh chán lìa cái cảnh toàn uế của thế giới Sa-bà.
Con người tâm lý còn vọng tạp lắm, nên với nghiệp chướng từ vô thủy, chẳng dễ gì chỉ tụng chú ấy mà có thể bạt trừ liền sạch đi được, vì còn những tập khí của nghiệp chướng, nên phải y theo văn “Hồng Danh Bảo Sám” mà phát nguyện rằng: “Con nay dấy lòng sám hối đây, là chẳng phải vì cầu cho con sẽ hưởng phúc lớn giàu sang làm người hay trời… mà chỉ nguyện cho con và cả chúng sinh trong pháp giới đồng đắc quả Phật, sám hối tất cả căn nghiệp từ vô thủy, được vào cảnh toàn tịnh của thế giới thanh thái”.
“Mông Sơn thí thực”, thiết lễ thí thực, để rộng ra tế độ các đẳng Cô hồn nơi âm cảnh. Thế là tỏ nghĩa rộng lớn rằng: Chẳng những dương thái, mà còn nguyện âm siêu, kẻ tồn người vong đều được phổ độ.

Đại đức, Tiến sĩ Thích Di Sơn có thời gian giảng dạy thâm niên tại nhiều trường Phật học và giảng pháp cho nhiều đạo tràng trên cả nước. Nhận lời mời từ Văn phòng, phòng Đào tạo Học viện PGVN tại Hà Nội, tuy trong thời gian ngắn 8 buổi học, nhưng Thầy đã đúc kết cô đọng ý nghĩa từng lời kinh văn và cách thức hành trì đúng với nề nếp thiền phong, chuyển tải được tinh thần học tập, hành trì cho Tăng Ni sinh, giữ gìn theo lối cổ của nghi thức, văn hoá Phật giáo miền Bắc. Điều quan trọng là dụng ý vào thực tiễn đời sống, ứng phó đạo tràng, chia sẻ hiểu biết Phật pháp trong đồng bào Phật tử, dùng phương tiện đưa người vào đạo, giác ngộ và giải thoát.

Tất cả quý Tăng Ni sinh thành kính chúc trên Thầy được thân tâm điều hoà, Phật sự viên thành, vô lượng an lạc, vô lượng cát tường.
Phụ trách nội dung: Ban Truyền thông Học viện