Hôm nay ngày19/04/Tân Sử nhằm ngày 30/05/2021 Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội tổ chức lễ kỵ nhật lần thứ 19 tưởng nhớ giác linh cố -Hòa thượng Thượng Viên hạ Thành nguyên Uỷ viên Thường trực Hội đồng Trị sự TWGHPGVN- nguyên phó ban Giáo dục Tăng Ni TW-nguyên Phó Ban Văn hóa, Phó Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam -nguyên Phó Trưởng Ban Thường trực Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây –nguyên Trưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ- nguyên Động chủ chùa Hương Tích đời thứ 11.

Hòa thượng Thích Viên Thành, thế danh Phùng Xuân Đào, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1950 (mồng 1 tháng 6 Canh Dần) tại làng Thượng Cát, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. Thân phụ là cụ ông Phùng Xuân Chỉ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thìn.
Khi ngài chưa tròn một tuổi thì thân phụ đã sớm quy Tây, ngài chỉ còn dựa vào tình thương yêu của thân mẫu và sự đùm bọc của bà nội cùng bà con lối xóm. Từng bước, cảnh sinh ly tử biệt ấy đã làm cho ngài sớm nhận ra lẽ vô thường của kiếp người, noi gương hai người cô ruột là sư cụ Đàm Mậu và sư cụ Đàm Ngọ, trụ trì chùa Bi, tỉnh Vĩnh Phúc, ngài quyết xuất gia cầu đạo vào năm 12 tuổi. Năm 15 tuổi, ngài được Sư tổ Thích Thanh Chân, động chủ Hương Tích, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, thu nhận làm đệ tử.

Năm 19 tuổi, ngài được Hòa thượng bản sư cho thụ giới Sa di. Sau khi thụ giới Sa di, ngài càng tỏ ra tinh tiến hành đạo nên năm 1972, ngài được đăng đàn thụ Cụ túc, viên mãn Tam đàn giới pháp taị Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Hà Sơn Bình
Nhận thấy ngài có chí cầu học, siêng năng đèn sách, Hòa thượng bản sư kỳ vọng ngài sẽ là Pháp khí trong đạo sau này, nên đã cho phép ngài xuống núi, theo học lớp Trung cấp Phật học tại chùa Quảng Bá và Quán Sứ-Hà Nội, niên khóa 1973 -1976. Trong thời gian theo học tại chùa Quán Sứ, ngài không những xuất sắc về mặt học vấn mà còn tinh nghiêm về mặt giới luật nên khi tốt nghiệp, được Giáo hội tuyển chọn vào Trường Cao cấp Phật học Việt Nam (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội) Khóa I, niên khóa 1981-1985.
Năm 1985, tốt nghiệp Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, ngài trở về chốn tổ phụng sự Tam bảo và bắt đầu dấn thân vào con đường hoằng dương Phật pháp.
Sau khi rời ghế nhà trường Phật học, ngài nguyện làm sứ giả của Như Lai, đem ánh sáng từ bi và giác ngộ của đức Phật thắp sáng thế gian này bằng tinh thần vô uý vị tha. Ngài luôn quan tâm đến việc đào tạo, giáo dục thế hệ Tăng ni trẻ, coi đó là việc báo đáp thâm ân của chư Phật một cách thiết thực nhất. Vì vậy, ngoài việc tiếp tăng độ chúng, ngài cón làm giảng sư của Trường Trung cấp Phật học cũng như Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội.

Năm 1984, ngay khi còn theo học Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, đáp lời thỉnh cầu tha thiết của chính quyền và nhân dân địa phương, Hòa thượng về nhận chùa Thầy – Thánh tích của Ngài Từ Đạo Hạnh.
Năm 1985, với giới đức trang nghiêm và hạnh nguyện từ bi vô ngại, ngài đã được Sư tổ, tức Hòa thượng Thích Thanh Chân, tin tưởng trao truyền kế đăng Động chủ Hương Tích.
Từ năm 1998, ngài được suy cử chức vụ Phó Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự tỉnh Phú Thọ.
Để báo đáp công ơn Thầy tổ và trang nghiêm ngôi Tam bảo, cùng với cương vị trụ trì chùa Hương, ngài đã đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Xây dựng và tôn tạo chùa Hương vào tháng 3 năm 1989 (năm 1947 chùa Thiên Trù đã bị giặc Pháp phá huỷ hoàn toàn). Ngài đã cùng với các cơ quan hữu quan, Phật tử và nhân dân địa phương trùng tu ngôi Đại hùng bảo điện, Tổ đường, Hương Thủy điện v.v… Chỉ hơn 10 năm, quần thể di tích danh lam chùa Hương được uy nghiêm tráng lệ như ngày nay phần lớn là nhờ công sức của ngài.
Ngài còn kiêm nhiệm trụ trì chùa Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Nơi đây, Hòa thượng đã tu bổ nhiều hạng mục công trình, duy trì phát triển Thánh tích chùa Thầy ngày một trang nghiêm hơn. Cũng chính nơi đây với tâm nguyện hành trì Mật giáo, ngài đã khơi sáng lại ngọn đèn truyền thừa Mật tông vốn đã được khởi lập bởi đức Thánh tổ Từ Đạo Hạnh cách đây gần một nghìn năm về trước.

Với sở học uyên thâm, giới đức trang nghiêm, từ bi vô lượng, những tưởng Hòa thượng còn trụ thế lâu hơn để hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử trên con đường tìm về bến giác. Nào ngờ cơn bạo bệnh chợt đến, Hòa thượng thuận lẽ vô thường trả tấm thân tứ đại lại cho trần gian mộng ảo để trở về thế giới vô tung bất sinh bất diệt vào lúc 18 giờ 40 phút ngày 31 tháng 5 năm 2002 (tức ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Ngọ), trụ thế 53 năm, hạ lạp 32 năm.53 năm tuy ngắn ngủi nhưng Hòa thượng đã sống một cách trọn vẹn, đầy ý nghĩa, đã hiến trọn cả cuộc đời cho Ðạo pháp, cho Dân tộc. Hạnh nguyện vô ngã, vị tha của Hòa thượng luôn là tấm gương sáng, là ngọn hải đăng soi sáng cho Tăng Ni, Phật tử hôm nay và mãi mãi về sau!

Dưới đây là những hình ảnh ghi nhận được tại buổi lễ:








