Giáo dục của Phật giáo Đại thừa

        Công việc đức Phật giáo dưỡng các Bồ tát được ghi lại trong các kinh điển đại thừa tiêu biểu như kinh Duy Ma, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa.

 

Cách đây gần 3000 năm đức Phật đã hiện hữu trên cuộc đời, sống trong nhung lụa quyền quý nhưng dưới mắt Ngài còn biết bao khổ đau của kiếp người, khổ đau vì chế độ giai cấp bất công của truyền thống xã hội bấy giờ cho đến khổ đau lớn nhất là phải lăp đi lăp lại mãi kiếp sống không thú vị gì trong sáu nẻo luân hồi. Tất cả nỗi niềm băn khoăn ấy đã thúc đẩy Ngài từ bỏ cuộc đời vương giả dấn thân đi tìm lẽ sống vĩnh hằng bất tử. Ngài trở thành bậc toàn giác toàn trí thấu suốt mọi quy luật chi phối con người và vũ trụ.

Từ khi thành đạo cho đến lúc Niết bàn, trên bước đường truyền bá chánh pháp, Ngài chỉ dạy mọi người phương cách đạt đến hiểu biết chính xác, thấy rõ thực chất của mọi việc để ứng xử đúng đắn được an vui giải thoát cho bản thân mình và những người liên hệ. Trong suốt 49 năm tận tụy vơi chức năng của vị Thầy giáo hóa liên tục không ngừng nghỉ bằng trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, việc làm thánh thiện và phương pháp giảng dạy sâu sắc, hiệu nghiệm, đức Phật Thích Ca quả là nhà giáo dục tuyệt vời.

Ngày nay đức Phật vắng bóng trên cuộc đời nhưng nhân cách siêu việt của Ngài đã trở thành bất tử. Những lời giáo huấn, những tư tưởng trong sáng Ngài truyền trao vẫn còn là mô hình quý báu chỉ đạo cho sự sống có ý nghĩa của loài người trên khắp năm châu. Tích cực hơn nữa, những lời Ngài dạy thẩm thấu vào mọi lĩnh vực biến thành sức mạnh văn hóa của nhân loại dưới mọi dạng hình muôn màu muôn vẻ trong suốt thời gian dài hơn 25 thế kỷ. Điều này thể hiện rõ nét Phật giáo tiêu biểu cho một hệ thống giáo dục toàn mỹ toàn bích.

Có thể nói, mục tiêu của một nền giáo dục tốt luôn hướng đến đào tạo con người tự thân và con người xã hội. Con người tự thân thì có đời sống vật chất lương thiện, ổn định và tinh thần an vui. Con người xã hội thì đóng góp được cho việc xây dựng, phát triển cộng đồng, họ chung sống từ đoàn thể nhỏ nơi làm việc cho đến toàn thể xã hội hay cả cộng đồng nhân loại. Không có gì quá đáng khi chúng ta khẳng định rằng hệ thống giáo lý của đức Phật đáp ứng thành công hai mục tiêu nói trên của giáo dục.

Thật vậy, đức Phật là vị Thầy hoàn toàn sáng suốt thấy được khả năng vô tận của con người có thể vươn đến chân thiện mỹ. Ngài thường nhắc nhở đệ tử phải tin ở tiềm năng ấy mà nỗ lực rèn luyện tri thức đạo đức làm chủ bản thân mình, tạo dựng một nếp sống hạnh phúc an lạc. Chính vì tin vào năng lực cải tạo thân tâm của mỗi người trở thành tốt đẹp nên đức Phật phủ nhận sự hiện hữu của đấng sáng thế có toàn quyền sắp xếp vận mạng cho con người. Mỗi người tự quyết định cuộc sống bản thân, hạnh phúc hay khổ đau hoàn toàn tùy thuộc nơi trình độ hiểu biết và ứng xử của mỗi người. Từ nền tảng giáo dục trên tinh thần tự tín tự chủ, đức Phật đã vạch ra con đường đi đến cuộc sống đạo đức, an lạc, giải thoát.

Trong phương pháp giảng dạy, đức Phật tùy trình độ của đối tượng, tùy nơi, tùy lúc hướng dẫn khác nhau. Qua kinh Tăng Chi, Tương Ưng, Trung Bộ, đức Phật dạy hàng cư sĩ tại gia cách sống thường nhật hạnh phúc cần phải giỏi nghiệp vụ, siêng năng, biết sắp xếp công việc, biết giữ cho mức thu chi trong gia đình quân bình, biết tạo ra của cải chân chính bằng khả năng của mình, biết giữ gìn sức khỏe, biết làm bạn với Hiền Thánh là thí, giới, tuệ để góp vốn liếng phước báo cho đời sau, biết sống với hiện tại, không tiếc nuối quá khứ, không tưởng tượng tương lai. (kinh Tăng Chi IV t 220, Tương Ưng I tr4, Trung Bộ III: kinh Nhất Dạ Hiền Giả).

Xa hơn, đức Phật chỉ dạy thuyết nhân duyên sinh theo đó con người hiện hữu do nhân duyên kết hợp của ngũ uẩn gồm đủ yếu tố vật chất và tinh thần. Ngài phân tích cho chúng ta thấy tuy cũng mang thân ngũ uẩn nhưng Ngài đạt quả vị toàn giác vì biết điều chỉnh thân tâm, kết hợp được sức mạnh tâm linh và vật chất của thân ngũ uẩn để hình thành thân đầy đủ tướng hảo và tinh thần hoàn toàn sáng suốt. Trái lại, chúng sanh mãi mãi khổ đau trong sanh tử luân hồi vì tự trói chăt thân ngũ uẩn của mình bằng sợi dây tham dục và vô minh tà kiến. Vô minh sanh ra tham dục, tham dục nuôi dưỡng vô minh. Vì vậy thế giới của chúng sanh là thế giới được xây dựng bằng vật liệu tham dục và mê lầm, đó là đầu mối phát sanh mọi hành động tội lỗi, xung đột, hận thù dẫn đến con người bị tha hóa, mất phẩm chất, sống trong khổ đau.

Muốn diệt sạch khổ đau, đức Phật đưa ra mô hình Bát chánh đạo, theo đó có được hiểu biết sáng suốt, quyết định đúng đắn, việc làm đạo đức. Tùy mức độ dập tắt tham dục và mê lầm đến đâu thì trạng thái giải thoát Niết bàn thể hiện chừng đó. Trong kinh Niết bàn Phật dạy: “Này Radha, ái diệt là Niết bàn, tham sân si diệt là Niết bàn” (Samyutta Nikaya). Như vậy Niết bàn hiểu theo nghĩa tiêu cực là tiêu hủy thế giới dục vọng, theo nghĩa tích cực Niết bàn là thế giới an vui của tâm hồn giải thoát khi đã trong sạch hóa thân tâm bằng Bát chánh đạo. Đức Phật giảng xong pháp Tứ Thánh đế, Ngài Kiều Trần Như phân định rõ thế giới sanh tử và thế giới Niết bàn liền đắc quả A la hán. Tiếp theo các vị Thanh văn khác chú tâm đến việc cầu học pháp này cũng đều lần lượt an trú giải thoát Niết bàn.

Từ nếp sống đạo đức an lạc ở Niết bàn của Thanh văn, đức Phật nâng sức tu học của đệ tử lên, luyện tập cho họ sống xa Phật xem có thanh tịnh giải thoát không, dạy họ động não để quan sát các pháp từ nguyên nhân phát sinh cho đến vận hành biến chuyển của pháp và ảnh hưởng tác động của nó như thế nào đối với tâm sinh lý của con người, đó là chương trình tu học quán Thập nhị nhân duyên của hàng Duyên Giác. Đến giai đoạn ba, hành giả bước vào lộ trình Bồ tát đạo, thể nghiệm những gì đã học được bằng hạnh Bồ tát làm lợi ích chúng sanh hay giai đoạn tu học sau cùng của Bồ tát mới thực sự thể hiện bản hoài của đức Phật trong sự nghiệp giáo dục mà Ngài xây dựng. Công việc đức Phật giáo dưỡng các Bồ tát được ghi lại trong các kinh điển đại thừa tiêu biểu như kinh Duy Ma, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa.

Trong kinh Duy Ma, đức Phật đưa ra hai mẫu người lý tưởng đã lãnh hội và thực hiện cốt lõi tinh thần Bồ tát đạo mà đức Phật giảng dạy: một mẫu người đại diện cho lớp tu sĩ là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và mẫu người cư sĩ là Duy Ma Cật. Tuy hai sắc thái xuất gia tại gia sinh hoạt tu học khác nhau nhưng đi đúng lộ trình Phật dạy đều xây dựng thế giới hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc ngay trong lòng thế gian.

Khởi đầu để xây dựng thế giới lý tưởng của Bồ tát mà kinh thường gọi là Tịnh độ, đức Phật dạy Bồ tát phải sử dụng chính bàn tay và khối óc của họ để kiến tạo ra tịnh độ ngay trong thành Tỳ Da Ly, không phải ở thế giới xa xăm không tưởng nào. Tuy nhiên muốn hình thành Tịnh độ hay thế giới tốt đẹp trước tiên cần phải xây dựng con người, vì con người thế nào thì thế giới tùy theo đó mà hiện ra. Nếu con người tội lỗi ngu dốt mà muốn có thế giới văn minh chỉ luống công vô ích, giống như người muốn nấu cát thành cơm. Trên nền tảng đào tạo con người đạo đức tri thức, mới xây dựng được thế giới phát triển hạnh phúc, đức Phật đưa ra mẫu Tịnh độ thứ nhất tên là Trực tâm, nói khác nếu hành giả tu tâm ngay thật, không dối trá và biết sống thành thật với chính mình và người xung quanh, chắc chắn hành giả không có gì phải lo âu, tính toán, sợ sệt thì sẽ có ngay Tịnh độ của Bồ tát. Sở dĩ thế giới Ta Bà đau khổ chỉ vì lòng chúng sanh không ngay thẳng và thích sống lừa dối nhau đến mức phá sản tinh thần, mọi người luôn nhìn nhau bằng nghi ky. Vì vậy muốn giáo dục, người ta phải xây dựng chính bản thân mình. Lòng hành giả luôn ngay thẳng thể hiện ra hành động, việc làm đúng đắn, không gian dối sẽ tạo niềm tin tưởng cho người, họ sẽ tìm đến kết bạn, hợp tác với hành giả trong niềm hoan hỷ, từ đó thế giới tin yêu, an lành đã mở ra cho chính mình và người.

Khi sống yên ổn trong thế giới chân thật rồi, hành giả nhìn ra bên ngoài, thấy người khổ đau, thiếu thốn, hoạn nạn liền nghĩ đến cưu mang, giúp đỡ, đưa họ về cùng sống trong thế giới an lành với hành giả nghĩa là từ Tịnh độ thứ nhất tiến sang Tịnh độ thứ nhì, Phật dạy Thâm tâm hay Đại bi tâm là Tịnh độ của Bồ tát. Đó là thế giới tình thương được xây dựng bên cạnh thế giới thành thật. Đức Phật được loài người kính trọng quý mến như đấng cha lành cũng vì Ngài đã mở rộng tột cùng thế giới cảm thông che chở thương yêu. Dấn thân trên đường hành Bồ tát đạo, hành giả trải rộng tình thương là chất keo gắn bó hành giả với chúng sanh, tạo thành chí nguyện kiên cố, thể hiện thành việc làm cụ thể giúp cho tha nhân có hiểu biết và phước lạc giống như hành giả. Tình thương chân thật của hành giả ảnh hưởng đến tâm người và được họ đáp lại bằng thiện cảm, bấy giờ Tịnh độ tình thương của Bồ tát được mở ra.

Xây dựng xong thế giới tình thương, hành giả bước vào sống trong Tịnh độ thứ ba là Bồ đề tâm. Bồ đề tâm là trí giác, hiểu biết sáng suốt để hành động đúng lợi ích cho mình và người. Bồ đề tâm hay yêu cầu tri thức rất quan trọng vì hành giả có thương người và ngay thẳng thế nào chăng nữa nhưng không đủ sáng suốt thì không thể giúp đỡ người mà còn tác hại ngược lại cho bản thân. Khi Bồ tát thực hành Bồ đề tâm, những người cầu chí hướng thượng sẽ tìm đến học hỏi phát triển tri thức. Nhờ Bồ đề tâm tăng trưởng hay trí giác phát triển, hành giả sáng suốt, thấy rõ được từng gút mắc của vấn đề, tháo gỡ khó khăn cho người và sáng tạo phương pháp giúp người thăng hoa cuộc sống, giúp xã hội phát triển tốt đẹp. Như vậy muốn có thế giới thánh thiện, giải thoát, an bình như Tịnh độ của Phật Thích Ca, hành giả phải xây dựng ba Tịnh độ căn bản của Bồ tát ngay trên cuộc đời này nghĩa là xây dựng xã hội của lòng ngay thật, của tình thương, của hiểu biết. Thiết nghĩ nơi nào con người sống với nhau bằng lòng chân thật, bằng tình thương và bằng hiểu biết, nơi đó nhất định hài hòa, an vui, phát triển. Mô hình thế giới tuyệt đẹp này của Bồ tát chắc hẳn vẫn là môi trường sống kiểu mẫu có giá trị cho loài người trong thời hiện đại.

Thành tựu ba tâm này, đức Phật dạy Bồ tát phát triển Tịnh độ bằng cách kết hợp ba tâm này với sáu pháp Ba la mật, với bốn nhiếp pháp, với mười nghiệp lành hoăc bốn tâm vô lượng, 37 trợ đạo phẩm v.v... đều là Tịnh độ của Bồ tát (bản dịch kinh Duy Ma của H.T Huệ Hưng trang 18).

Ngoài kinh Duy Ma, kinh Hoa Nghiêm được xem là trung tâm điểm tích cực của lý tưởng Bồ tát đạo trong hệ thống giáo dục đăc trưng của tư tưởng đại thừa Phật giáo. Kinh Hoa Nghiêm vạch ra con đường Bồ tát hành đạo từ sơ phát tâm trải qua quá trình tu Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa hoàn thành công hạnh Bồ tát. Vì thì giờ có hạn, ở đây chúng tôi xin đề cập đến phần cuối là giai đoạn Thập địa của Bồ tát và trong phần Thập địa cũng chỉ đơn cử tinh thần giáo dục rõ nét lợi ích cho con người thể hiện trong phần sơ địa Bồ tát hay Hoan Hỷ địa. Phật dạy Bồ tát ở cấp bậc này tu lục độ Ba la mật và Tứ nhiếp pháp nhưng lấy pháp bố thí làm công việc chính yếu.

Bố tát phát tâm đại bi dấn thân vào đời cứu khổ chúng sanh, việc đầu tiên là hành bố thí vì muốn giáo hóa chúng sanh cần phải ban ơn trước. Đức Phật dạy tùy tâm lượng của người hành bố thí tạo nên ảnh hưởng tác động cho người nhận như thế nào mới có thể phân định được giá trị của bố thí.

Pháp bố thí thông thường theo nhân gian là khi nhìn thấy người khổ chúng ta giúp đỡ, nhưng cho một lần rồi chúng ta không quan tâm đến họ nữa, hoăc chúng ta giúp họ nhiều lần rồi chán hay thấy họ không biết ơn, ta khó chịu... Tất cả tâm lượng của người cho theo cách bố thí thế gian hợp lại thành nghiệp chướng phiền não trần lao vì người cho thì cạn túi, người nhận thì nghèo thêm. Thực tế cho thấy ít ai nhận của bố thí mà sau này khá, đó không phải là pháp Phật dạy.

Bố thí theo Phật dạy nằm trong Tứ nhiếp pháp là phương tiện trí lực của Bồ tát và bố thí của lục độ Ba la mật là quả cứu cánh tu chứng của Bồ tát nên gọi là Ba la mật. Cả hai cách bố thí này đều phát xuất từ tâm đại bi, từ tình thương đối với chúng sanh khởi lên tự đáy lòng. Vì vậy nhận được quà của người có tâm lượng đại bi, người nhận cảm thấy nhẹ nhàng vui sướng, hoàn toàn khác với của người cho vì lợi dụng hay cho mà khi dễ, cả khối chua xót năng đè lên tâm lý người nhận.

Người hành bố thí theo tinh thần Tứ nhiếp pháp nhằm mục tiêu giáo hóa chúng sanh, không phải thấy đói mà bố thí rồi không biết ngày mai họ sẽ ra sao. Bồ tát hành xử bố thí như một phương tiện để nâng cấp, giúp người phát triển trong đời này và những đời sau cho đến ngày thành Phật, không giúp cho họ thành kẻ hèn mọn ăn hại mãi mãi. Bồ tát đến với người bằng trí tuệ và tình thương chân thật, giúp đỡ vật chất và hướng dẫn tinh thần, tạo điều kiện cho người phấn đấu đi lên để trở thành người tốt, không hề sanh ý thức muốn nhờ vả mãi. Bồ tát đã gieo vào lòng người tâm niệm tốt, nhờ đó giữa Bồ tát và họ gắn bó sâu sắc hơn, mỗi đời họ tự thăng hoa phát triển tốt đẹp thêm. Đó là cách bố thí của Bồ tát Sơ địa gởi theo món quà cả tấm lòng vị tha tác động cho tha nhân thay đổi tâm niệm và việc làm được tốt đẹp như Bồ tát. Đạt được trình độ giáo hóa người như vậy, Bồ tát bước vào Hoan hỷ địa nghĩa là lúc nào Bồ tát cũng có nguồn vui sống trong việc nuôi dưỡng, che chở, dạy dỗ người và họ cũng theo đó được hưởng niềm hoan hỷ của hiểu biết, của việc làm đạo đức phục vụ lại người khác.

Tóm lại, có rất nhiều cách giáo dục thiết thực và lợi ích khác nữa mà Phật giáo đại thừa đã triển khai từ mô hình đức Phật hướng dẫn cho Bồ tát, tất cả đều là những bài học giáo dục rất mẫu mực đã được tăng ni Phật tử thể nghiệm trong cuộc sống thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh trên mọi nẻo đường đời.

Nối gót theo dấu chân Phật và các vị Tổ đức, hàng hàng lớp lớp người tự nguyện tiến bước trên con đường lý tưởng Bồ tát, tiếp tục tỏa sáng tình thương cao cả, việc làm chân tình, vô tư, lợi ích cho cuộc sống con người được sung mãn vật chất và thăng hoa trí tuệ. Tất cả kết tinh thành những đóa hoa đạo đức, trí tuệ nở hương thơm ngát trên lộ trình giáo dục của Bồ tát vậy.

Hòa Thượng THÍCH TRÍ QUẢNG

EmailEmail InPrint PDF.

Video mới nhất

<

Album hình ảnh

  • Kinh hoa nghiêm

    Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

  • Pháp bảo Đàn kinh

    Đại Sư tên Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sanh ra Sư nhằm giờ Tý, ngày mùng tám, tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12.

  • Con Đường Bồ Tát Nhập Thế Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác

    Kinh Bát Đại nhân Giác là một tác phẩm Kinh điển Đại thừa, ngôn ngữ súc tích, ý nghĩa cô đọng như các danh ngôn của Kinh Pháp Cú,

Slideshow with mootools

    SlideShow Pro Module v2.0 by JT

    Liên kết website

    Nhận qua Email

    Tên :

    Email của bạn

    Lượt truy cập:1552606
    Đang online :26
    Bảng quảng cáo